vanban.org

Bản án 31/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Cửa Lò, tỉnh Nghệ An Tuyên án 14/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 01/6/2022). Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CỬA LÒ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HSST
Ngày 14/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thế Lan

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chế Đình Sơn

2. Ông Võ Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thập - Kiểm sát viên .

Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2022/TLST- HS ngày 26/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/HSST-QĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Xuân Đ; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam.

Sinh ngày 01 tháng 8 năm 2001, nơi sinh huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: Xóm 3, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Trình độ học vấn: 8/12.

Họ tên cha: Lê Xuân S, sinh năm 1970;

Họ tên mẹ: Phan Thị L, sinh năm 1970;

Anh, chị, em ruột có 04 người, bị can là con thứ 04;

Vợ, con: Chưa;

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 28/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2020.

Nhân thân:

- Ngày 16/9/2019 Lê Xuân Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. (Tại thời điểm phạm tội Lê Xuân Đ mới 17 tuổi 10 tháng 11 ngày).

- Ngày 27/5/2016 bị Công an huyện Nghi Lộc xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

- Ngày 26/7/2019 bị Công an phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị can Lê Xuân Đ bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Cửa Lò, Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 01/6/2022, Lê Xuân Đ đi uống bia với bạn tại khu vực cầu Cửa Hội (khối Hải Nam, phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò). Trong lúc uống bia, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ đi ra ngoài gọi điện thoại cho một người đàn ông tên Công ở xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc hỏi mua ma túy. Đ thỏa thuận mua nợ của Công 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) ma túy đá, được Công đồng ý và hẹn gặp tại khu vực cầu xóm 2 xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc. Gọi điện thoại xong, Đ đi vào quán nói với Luận (một người bạn cùng uống bia) mượn mô tô của Luận để về nhà có việc. Đ lái xe đi đến địa điểm hẹn và gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, bịt kín mặt.Người này đưa cho Đ 01 gói ma túy được bọc bằng giấy bạc màu vàng bên ngoài. Đ bỏ vào túi quần bên phải rồi quay trở lại quán bia trả xe cho Luận. Đến khoảng 20 giờ 40 phút khi Lê Xuân Đ đang đi bộ tại vòng xuyến cầu Cửa Hội (khối Hải Nam, phường Nghi Hải) để tìm vị trí sử dụng ma túy thì bị Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 phối hợp với Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Cửa Lò - Bến Thủy và Công an phường Nghi Hải phát hiện và bắt quả tang, thu giữ 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có gói nilon màu trắng chứa chất dạng tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu xanh, đã qua sử dụng, số seri358991096083918, bên trong đang dùng số thuê bao 0979046944.

Ngày 02/6/2022, Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 thành lập hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu vật gửi giám định và niêm phong lại theo quy định.

Tại kết luận số 750/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 06/6/2022 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng tinh thể thu giữ của Lê Xuân Đ có khối lượng 0,970 gam (không phẩy chín trăm bảy mươi gam) khi bị bắt quả tang gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine).

Về vật chứngthu gữ:

- 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có gói nilon màu trắng chứa chất dạng tinh thể màu trắng có khối lượng 0,970 gam ma túy Methamphetamine, hội đồng mở niêm phong đã lấy 0,550 gam gửi giám định, số còn lại 0,420 gam và các vỏ gói niêm phong ban đầu đã được niêm phong lại theo quy định. bằng cách bỏ vào phong bì thư dán kín, trên các mép dán có chữ ký của Lê Xuân Đ và chữ ký của những người tham gia.

- 1 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu xanh, đã qua sử dụng, số imei 358991096083918, bên trong đang dùng số thuê bao 0979046944.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND Thị xã Cửa Lò vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo: mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS Điều 47 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại thu giữ của bị cáo và các bao bì niêm phong ban đầu.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo.

Qua xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã nêu và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã Cửa Lò, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Xuân Đ hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 01/6/2022, tại khu vực vòng xuyến cầu Cửa Hội, thuộc khối Hải Nam, phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 thuộc Bộ tư lệnh cảnh sát biển phối hợp với Đồn Biên phòng cửa khẩu Cửa Lò- Bến Thủy và Công an phường Nghi Hải phát hiện và bắt quả tang Lê Xuân Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép một gói ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,970 gam (không phẩy chín trăm bảy mươi gam) để sử dụng. Như vậy đủ cơ sở để hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Xuân Đ phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

. Về tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện khác, làm mất trật tự trị an trên địa bàn thị xã và gây ảnh hưởng đến công tác phòng chống tội phạm ma túy. Vì vậy, việc kịp thời phát hiện, điều tra, truy tố để đưa bị cáo ra xét xử là hoàn toàn cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 28/8/2020 bị cáo Lê Xuân Đ bị tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 15/11/2020, chưa được xáo án tích nay phạm tội mới do cố ý. Vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 16/9/2019 Lê Xuân Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. (Tại thời điểm phạm tội Lê Xuân Đ mới 17 tuổi 10 tháng 11 ngày).

- Ngày 27/5/2016 bị Công an huyện Nghi Lộc xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

- Ngày 26/7/2019 bị Công an phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy cần lên cho bị cáo một mức án đủ nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Xét bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

. Trong vụ án có người đàn ông tên Công mà bị cáo đã liên lạc qua điện thoại để mua ma túy. Qúa trình điều tra cơ quan điều tra đã phối hợp với nhà mạng để thu thập thông tin chủ thuê bao nhưng đến nay chưa có kết quả. Khi nào xác định được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: - 01 phong bì thư của đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2- Bộ tư lệnh cảnh sát biển được niêm phong theo luật định trên các mép dán có chữ ký của Lê Xuân Đ và thành phần tham gia niêm phong, có hình dấu của Đoàn đặc nhiệm, bên trong đựng 0,420g chất ma túy (Methamphetamine), sau khi lấy mẫu giám định và các vỏ bao niêm phong ban đầu. Lượng ma túy còn lại và các vỏ bao niêm phong ban đầu tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu xanh, số Imei: 358991096083918, số 0979046944, thu giữ của Lê Xuân Đ. Thọ đã dùng điện thoại để liên lạc mua ma túy để sử dụng, là phương tiện phạm tội , điện thoại còn có giá trị do vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Các vật chứng trên hiện đang được lưu tại kho chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò theo biên bản giao nhận ngày 26/8/2022).

. Về án phí: Bị cáo Lê Xuân Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS.

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt bị cáo Lê Xuân Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 01/6/2022).

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư của đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 - Bộ tư lệnh cảnh sát biển được niêm phong theo luật định trên các mép dán có chữ ký của Lê Xuân Đ và thành phần tham gia niêm phong, có hình dấu của Đoàn đặc nhiệm, bên trong đựng 0,420 g chất ma túy (Methamphetamine), sau khi lấy mẫu giám định và các vỏ bao niêm phong ban đầu.

Tich thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu xanh, số Imei: 358991096083918, số 0979046944, thu giữ của Lê Xuân Đ

(Các vật chứng trên hiện đang được lưu tại kho chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò theo biên bản giao nhận ngày 26/8/2022).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Lê Xuân Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ