vanban.org

Bản án 31/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 21/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/9/2020 đến ngày 02/10/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HSST
Ngày 21 tháng 03 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Sỹ L

2. Bà Nguyễn Thị T

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân A- Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang H- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và 21 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2022/TL - HSST ngày 27 tháng 01 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2022/QĐHPT-HS ngày 23 tháng 02 năm 2022 đối với:

* Bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Sinh năm 1997. Nơi ĐKNKTT: Số 48, ngõ 15 phố ND, phường PX quận BĐ, thành phố HN và nơi cư trú: Số 48 ngõ 15 phố ND, phường PX, quận BĐ, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Không. Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Nguyễn Trọng Thanh P, sinh năm 1963. Họ và tên mẹ: Đỗ Thị T, sinh năm 1973. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Chưa có vợ con. Tiền án, Tiền sự: 01 tiền án chưa xóa: Bản án sơ thẩm số 69 ngày 27/04/2018 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử tội Cố ý gây thương tích phạt 18 tháng tù. Bản án phúc thẩm số 385 ngày 29/06/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử tội Cố ý gây thương tích phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách 36 tháng. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 23/09/2020 đến ngày 02/10/2020. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Trường A; Sinh năm 1994; HKTT: 73 TB, quận HK, thành

phố Hà Nội; Nơi ở: Số 219B KT, phường TQ, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Anh Nguyễn Văn H; Sinh năm 1995; HKTT: Tổ 11 ĐT, ĐK, quận

HM, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số 58 ngõ 32/15 hẻm 46 AD, quận TH, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Anh Nguyễn Duy A; Sinh năm 1990; HKTT và nơi ở: Số 128B6 AD,

phường YP, quận TH, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Chị Nguyễn Hải Y; Sinh năm 1995; HKTT và nơi ở: Số 2C QT,

phường HT, quận HK, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

- Anh Mai Thiện N; Địa chỉ: NH, NM, CM, tỉnh An Giang. Vắng mặt

tại phiên tòa không có lý do.

- Anh Phạm Hồng S; Địa chỉ: TM, HM, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa

không có lý do.

- Chị Nguyễn Thanh V, sinh năm 1987; HKTT: 88 BND, phường BM,

HBT, Hà Nội. Nơi ở: 27 ngõ 8 BND, phường BM, HBT, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Anh Đào Minh T; Địa chỉ: 93 TT nhà máy điện YP, phường YP, quận

TH, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1966; HKTT: Tổ dân phố H14,

phường CN1, BTL, Hà Nội, Nơi ở: Số 2 ngõ 467 đường PVĐ, phường CN 1, BTL, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ông Phạm Anh T, sinh năm 1973; HKTT: 5/109 ND, phường PX,

BĐ, Hà Nội; Nơi ở: Số 62/78 NT, phường NT, quận LB, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1977; Địa chỉ: XN, XT, Nam Định. Vắng

mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 2001; HKTT: PA, XN, XT,

Nam Định; Nơi ở: Số 90 ngõ 47 ND, LN, HMi, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1991; HKTT: Tổ dân phố số 1 – T,

phường MT, NTL, Hà Nội; Nơi ở: Số 72 phố MĐ, phường MT, NTL, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1986; HKTT và nơi ở: Tổ dân phố Đ,

thị trấn CT, huyện TY, Bắc Giang. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 22/9/2020, Tổ công tác Đội CSHS Công an quận HBT trong quá trình làm nhiệm vụ tại khu vực cổng trường trung cấp xây dựng Hà Nội, số 2 ND, phường PX, quận BA ĐÌNH, thành phố Hà Nội phát hiện có 2 nam thanh niên điều khiển 2 xe máy không biển kiểm soát có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác phối hợp với Công an phường PX tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện Nguyễn Trọng Đ và Lê Trường A (Sinh năm: 1994 Nơi cư trú: 73 TB, quận HK, thành phố Hà Nội) điều khiển 02 chiếc xe không BKS gồm: 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đỏ SK: 0004051; SM: 004011 và 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đen SK: 491957; SM: 0467090 đều không có giấy tờ xe. Đ khai 2 chiếc xe máy trên là tài sản trộm cắp, do ham rẻ nên Đ mua về để bán kiếm lời.

Tiến hành điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định được tại đầu ngõ 15 ND, phường PX, quận BĐ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Trọng Đ đã 7 lần mua xe máy trộm cắp của các đối tượng sau: đối tượng tên T (tức Vũ Huy T Sinh năm: 1986, trú tại: số 1A tổ 11A, phường TL, quận HBT, thành phố Hà Nội); đối tượng tên H (tức Nguyễn Thành T Sinh năm: 1996 Nơi cư trú: là đường 10 ND, quận BĐ, thành phố Hà Nội); đối tượng tên T và 01 đối tượng nam thanh niên chưa xác định được lại lịch. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng tháng 6/2020, Đ mua của Nguyễn Thành T (tức H) 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu ghi xám, đeo BKS: 29H1398.55. Do không có giấy tờ và biết là xe trộm cắp, nên Đ trả cho T 3 3.000.000 đồng. Sau đó, Đ gửi chiếc xe lại bãi xe Trường trung cấp xây dựng Hà Nội.

Lần thứ hai: Khoảng tháng 6/2020, Đ mua của Nguyễn Thành T (tức H) 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, không đeo BKS, có SK: 089394; SM: 0789547. Do xe không có giấy tờ, không BKS và biết là xe trộm cắp nên Đ trả cho T 3.000.000 đồng và gửi chiếc xe tại bãi xe Trường trung cấp xây dựng Hà Nội.

Lần thứ ba: Khoảng giữa tháng 8/2020, Đ mua của Nguyễn Thành T (tức H) 1 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có số khung: RLHJA3915KY056695; số máy: JA39E-0912757. Do xe không có giấy tờ, không BKS và biết là xe trộm cắp nên Đ trả cho T 4.000.000 đồng. Đến khoảng đầu tháng 9/2020, Đ đã bán chiếc xe máy trên cho Nguyễn Văn H (Sinh năm: 1995 Chỗ ở: Số 58 ngõ 32/15/46 AD, phường YP, quận TH, thành phố Hà Nội) với giá 5.000.000 đồng. Số tiền lời chênh lệch 1.000.000đồng Đ đã ăn tiêu hết.

Lần thứ tư: Khoảng giữa tháng 9/2020, Đ mua của Vũ Huy T 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, không đeo BKS, có SK: 0004051; SM: 004011. Do xe không có giấy tờ, không BKS và biết là xe trộm cắp nên Đ trả cho T khoảng 2 -3 triệu (không nhớ chính xác) và gửi chiếc xe tại bãi xe Trường trung cấp xây dựng Hà Nội.

Lần thứ năm: Ngày 21/9/2020, Đ mua của Vũ Huy T 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không đeo BKS, có SK: 648852; SM: 0623975. Do xe không có giấy tờ, không BKS và biết là xe trộm cắp nên Đ trả cho T khoảng 2 - 3 triệu (không nhớ chính xác) và gửi chiếc xe tại bãi xe Trường trung cấp xây dựng Hà Nội.

Lần thứ sáu: Ngày 22/9/2020, Đ mua của Vũ Huy T 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không đeo BKS, có SK: 491957; SM: 0467090. Do xe không có giấy tờ, không BKS và biết là xe trộm cắp nên Đ trả cho T khoảng 2 - 3 triệu (không nhớ chính xác) và gửi chiếc xe tại bãi xe Trường trung cấp xây dựng Hà Nội.

Lần thứ bảy: Khoảng tháng 7/2020, Đ mua của một thanh niên không quen biết 1 xe máy Honda Wave màu ghi xám, có SK: 411975; SM: 541223,

* Tại bản Kết luận giám định số 9529/KLGD-PC09-03 ngày 06/11/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội (BL43) xác định: 09 (chín) xe máy gửi giám định, hiện tại số khung và số máy là số nguyên thủy gồm:

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu ghi xám, đeo biển kiểm soát 29H1- 398.55; số khung: RLHHC1214DY075216; số máy: HC12E-5075358;

- 01 xe máy nhãn Honda Wave màu đen, khong đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3908HY648852, số máy: JA39E - 0623975;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3915KY099286, số máy: JA39E-0955701;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh ngọc, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA390XHY089394, số máy: JA39E – 0789541;

- 01 xe máy nhãn hiệu Piaggio Zip màu trắng, biển kiểm soát: 30K4 – 2904, số khung: *LBMM2520000015434*, số máy: *M252M*15743*;

- 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đen SK: RLHJA3903HY491957; SM: JA39E-0467090;

- 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đỏ SM: RLHJA3908HY004011; SK: JA39E-0004051;

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có số khung: RLHJA3915KY056695; số máy: JA39E-0912757;

- 01 xe máy Honda Wave màu ghi xám, không đeo BKS có SM: RLHHC1219DY411975, SK: HC12E-541223;

- Xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE đeo biển kiểm soát: 67L1 - 599.60 gửi giám định, hiện tại có số khung: RLHHC125XFY748280 và số máy: HC12E - 5748270 là số đóng lại. Xác định được số khung nguyên thủy là: RLHHC125XFY?.?. Xác định được số máy nguyên thủy là: HC12E - 72 274 (ký tự ? " không xác định được);

- Không giám định biển kiểm soát: 29H1 - 398.55, 30K4 - 2904, 67L1 - 599.60 do không có mẫu so sánh.

* Tại bản Kết luận định giá số 103/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2020 trong tố tụng hình sự của Hội đồng định giá thường xuyên của UBND quận HBT (BL34-40) kết luận 07 chiếc xe nêu trên như sau:

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu ghi xám, biển kiểm soát: 29H1- 398, 55, số khung: RLHHC1214DY075216, số máy: HC12E5075358, xe đã qua sử dụng, trị giá 10.000.000 đồng;

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, không đeo biển kiểm soát, biển kiểm soát theo Số khung số máy: 29L1-695.69, số khung không đeo BKS, không có giấy tờ xe. Do biết là xe trộm cắp nến Đ trả cho thanh niên này 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Sau đó, đến khoảng tháng 8/2020, Đ cho Nguyễn Duy Anh (Sinh năm: 1990 Nơi cư trú: 128 36 AD, phường YP, quận TH, thành phố Hà Nội) mượn chiếc xe máy trên để làm phương tiện đi lại.

* Tang vật thu giữ:

- Thu giữ của Nguyễn Trọng Đ: 01 xe máy Honda Wave Alpha màu đỏ không BKS, SK: 0004051; SM: 004011; 01 giấy hẹn mang tên Đào Minh T; 01 biên lai thu tiền phí lệ phí số 0053980; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe môtô, xe máy số: XMTD 190001724;

- Thu giữ của Lê Trường A: 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đen, không đeo BKS, SK: 491957; SM: 0467090 (BL45);

- Thu giữ của Nguyễn Hải Y: 01 (một) bản photo giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 013765 của xe máy BKS: 30K4 - 2904 và 01 (một) bản photo giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 018544 của xe máy BKS: 67L1 - 599.00;

- Thu giữ tại bãi xe Trường trung cấp xây dựng Hà Nội của Nguyễn Trọng Đ:

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3908HY648852, số máy: JA39E – 0623975;

+ 01 xe máy nhãn hiệu Piaggio Zip màu trắng, biển kiểm soát: 30K4 – 2904, số khung: 520000015434, số máy: *M252M*15743;

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu ghi xám, đeo biển kiểm soát 29H1- 398.55; số khung: RLHHC1214DY075216; số máy: HC12E-5075358;

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, đeo biển kiểm soát 67L1. 559.60, số khung: RLHHC125XFY748280, số máy: HC12E-5748270;

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3915KY099286, số máy: JA39E-0955701;

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh ngọc, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA390XHY089394, số máy: JA39E – 0789541.

- Thu giữ của Nguyễn Văn H: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không BKS, xe không có giấy tờ có số khung: RLHJA3915KY056695; số máy: JA39E-0912757 là xe H mua của Đ;

- Thu giữ của Nguyễn Duy A: 01 xe máy Honda Wave màu ghi xám, không đeo BKS có SK: 411975; SM: 541223, là xe Đ đưa cho Duy A mượn sử dụng; RLHJA3908HY648952, số máy: JA 39E-0623975, xe đã qua sử dụng trị giá 6.000.000 đồng;

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh ngọc, không đeo biển kiểm soát, tra cứu Số khung số máy không có trong dữ liệu, số khung RLHJA390XHY089394, số máy: JA39E-0789547, xe đã qua sử dụng, trị giá 7.000.000 đồng;

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, không đeo biển kiểm soát, biển kiểm soát theo Số khung số máy: 18F1-316.45, số khung: 491957, số máy: (0467090, xe đã qua sử dụng trị giá 10.000.000 đồng;

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, không đeo biển kiểm soát, biển kiểm soát theo Số khung số máy: 29L5-213.72, số khung: 0004011, số máy: 0004051, xe đã qua sử dụng, trị giá 6.000.000 đồng;

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo biển kiểm soát, biển kiểm soát theo Số khung số máy: 29B1-949.38, số khung: RLHJA3915KY056695, số máy: JA39E-0912757, xe đã qua sử dụng, trị giá 10.000.000 đồng;

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu ghi xám, không đeo biển kiểm soát, biển kiểm soát theo Số khung số máy: 98B2-155.61, số khung: 411975, số máy: 541223, xe đã qua sử dụng, trị giá 10.000.000 đồng. Tổng trị giá là 59.000.000 đồng (năm mươi chín triệu đồng).

Tại cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Trọng Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai nhận của bị can phù hợp với các vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với hành vi nhận cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xám, đeo BKS: 67L1-599.60 và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có SK: 099286; SM: 0955701, chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ về hành vi này.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Zip, đeo BKS: 30K4- 2904, SK: 15743; SM: 520000015434 xác định là xe của Nguyễn Hải Y (SN: 1995, trú tại: 2C QT, phường HT, quận HK, thành phố Hà Nội, là người yêu của Đ mua sử dụng từ năm 2016, không phải xe tang vật nên không xem xét xử lý hình sự đối với Đ về chiếc xe này.

Đối với Nguyễn Duy A, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hải Y và Lê Trường A không biết nguồn gốc xe máy của Nguyễn Trọng Đ là do phạm tội mà có, không được hưởng lợi nên không xem xét xử lý.

Đối với đối tượng T và 01 nam thanh niên bán xe cho Đ, do chưa xác định được lại lịch cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với đối tượng Vũ Huy T và Nguyễn Thành T là người đã bán máy trộm cắp cho Nguyễn Trọng Đ, Cơ quan CSĐT Công an quận BĐ đã triệu tập T và T, tuy nhiên cả hai đều không có ở địa phương. Ngoài ra, Cơ quan CQĐT - Công an quận HBT đã ra Quyết định tách vụ án Trộm cắp tài sản số 24 ngày 17/6/2021 để điều tra, do đó hai đối tượng này sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 197/CT-VKS ngày 29/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Nguyễn Trọng Đ về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo qui định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 05 đến cuối tháng 09/2020, tại khu vực đầu ngõ 15 ND, phường PX, BĐ, Hà Nội, mặc dù Nguyễn Trọng Đ biết rõ nguồn gốc các xe máy không có giấy tờ, không BKS là tài sản do phạm tội mà có, nhưng do hám lời nên Đ đã 7 lần mua 7 chiếc xe máy là tài sản trộm cắp, có tổng trị giá là 59 triệu đồng của Vũ Huy T, Nguyễn Thành T và 02 đối tượng chưa xác định được lại lịch, mục đích để bán kiếm lời. Sau khi mua số xe trên, Đ đã bán lại 01 chiếc xe máy cho Nguyễn Văn H với giá 5 triệu đồng, hưởng lợi 1 triệu đồng. Số xe máy còn lại chưa tiêu thụ được thì bị phát hiện, thu giữ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Trọng Đ về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù của bản án số 385 ngày 29/06/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án với mức án từ 30 đến 36 tháng tù. Áp dụng Điều 76, 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự, xử lý tang vật như sau:

- Tách phần tang vật và giao cho cơ quan công an quận BĐ tiếp tục quản lý, tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật đối với 02 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xám, đeo BKS: 67L1-599.60, số khung RLHH125XFY748280, số máy HC12E-5748270 cùng bản photo giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 018514 của xe mô tô mang BKS 67L1- 599.60 và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có SK: 099286; SM: 0955701 và giấy hẹn mang tên Đào Minh T;

- Trả lại cho chị Nguyễn Hải Y chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Zip, đeo BKS: 30K4- 2904, SK: 15743; và bản photo giấy đăng ký xe mô tô xe máy số 013765;

- Tạm giao cho Cơ quan thi hành án dân sự quận BĐ tiếp tục quản lý và tìm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm đối với 02 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha đeo biển kiểm soát 29H1- 398.55; số khung: RLHHC1214DY075216; số máy: HC12E-5075358 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh ngọc, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA390XHY089394, số máy: JA39E – 0789547. Hết thời hạn trên mà không tìm được chủ sở hữu thì sung quỹ Nhà nước.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Q và chị Nguyễn Thị Hương G 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đen SK: RLHJA3903HY491957; SM: JA39E-0467090.

- Trả lại cho anh Nguyễn Quốc H 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đỏ SM: RLHJA3908HY004011; SK: JA39E-0004051.

- Trả lại cho anh Phạm Anh T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có số khung: RLHJA3915KY056695; số máy: JA39E-0912757.

- Trả lại cho anh Nguyễn Văn C chiếc xe máy Honda Wave màu ghi xám, không đeo BKS có SM: RLHHC1219DY411975, SK: HC12E-541223.

- Trả lại cho anh Nguyễn Đức D chiếc xe 01 xe máy nhãn Honda Wave màu đen, khong đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3908HY648852, số máy: JA39E – 0623975.

- Tịch thu tiêu hủy 01 biên lai thu tiền lệ phí số 0053980 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe máy số XMTD 190001724.

- Truy thu số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo hưởng lợi bất chính từ hành vi phạm tội.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Trọng Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận BĐ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên người bị hại vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do tại phiên tòa. Tuy nhiên, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bầy nội dung sự việc và đã có lời khai tại cơ quan điều tra được thể hiện trong hồ sơ, nên việc vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Trọng Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của những người làm chứng, kết luận định giá tài sản của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận BĐ cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 05 đến cuối tháng 09/2020, tại khu vực đầu ngõ 15 ND, phường PX, BĐ, Hà Nội, Nguyễn Trọng Đ mua bán, tiêu thụ 7 chiếc xe máy của các đối tượng Vũ Huy T, Nguyễn Thành T và 02 đối tượng chưa xác định được lại lịch, gồm các xe:

- 01 xe mô tô Honda Wave Alpha đeo biển kiểm soát 29H1- 398.55; số khung: RLHHC1214DY075216; số máy: HC12E-5075358 có giá trị 10.000.000đồng.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh ngọc, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA390XHY089394, số máy: JA39E – 0789547 có giá trị 7.000.000đồng.

- 01 xe máy Honda Wave Alpha màu đen SK: RLHJA3903HY491957; SM: JA39E-0467090 có giá trị 10.000.000đồng.

- 01 xe máy Honda Wave Alpha màu đỏ SM: RLHJA3908HY004011; SK: JA39E-0004051 có giá trị 6.000.000đồng.

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có số khung: RLHJA3915KY056695; số máy: JA39E-0912757 có giá trị 10.000.000đồng.

- 01 xe máy Honda Wave màu ghi xám, không đeo BKS có SM: RLHHC1219DY411975, SK: HC12E-541223 có giá trị 10.000.000đồng.

- 01 xe mô tô nhãn Honda Wave màu đen, khong đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3908HY648852, số máy: JA39E – 0623975 có giá trị 6.000.000đồng.

Tổng giá trị của 07 chiếc xe trên là 59.000.000đồng. Khi mua bán, tiêu thụ 07 chiếc xe máy trên, bị cáo nhận thức đó là xe máy do các đối tượng bán xe cho bị cáo phạm tội mà có vì đều là xe không biển kiểm soát, không giấy tờ và bán với giá rẻ hơn giá trị thật của xe. Sau khi mua số xe trên, Đ đã bán lại 01 chiếc xe máy cho Nguyễn Văn Hải với giá 5 triệu đồng, hưởng lợi 1 triệu đồng. Số xe máy còn lại chưa tiêu thụ được thì bị phát hiện, thu giữ.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ tại thời điểm phạm tội, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Trọng Đ đã phạm vào tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, gây khó khăn cho việc phát hiện điều tra, cứu trách nhiệm hình sự đối với những người phạm tội khác.

Nhân thân bị cáo Nguyễn Trọng Đ có 01 tiền án, bị cáo phạm tội trong thời hạn thử thách. Qua đó thể hiện bị cáo đã được pháp luật giáo dục cải tạo nhưng không sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy thái độ của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền hưởng lợi bất chính 1.000.000đồng. Do đó, cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 02 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xám, đeo BKS: 67L1-599.60 cùng bản photo giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 018514 của xe mô tô mang BKS 67L1- 599.60 và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có SK: 099286; SM: 0955701 và giấy hẹn mang tên Đào Minh Tuấn; cả 02 chiếc xe chưa xác định được chủ sở hữu nên cần tách phần xử lý tang vật đối với 02 chiếc xe trên và giao cho cơ quan công an tiếp tục quản lý, tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Zip, đeo BKS: 30K4- 2904, SK: 15743; SM: 520000015434 xác định là xe thuộc sở hữu của chị Nguyễn Hải Yến, không phải xe tang vật và bản photo giấy đăng ký xe mô tô xe máy số 013765 của xe mô tô mang BKS 30K4-2904 nên trả lại cho chị Yến.

- Đối với 02 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha đeo biển kiểm soát 29H1- 398.55; số khung: RLHHC1214DY075216; số máy: HC12E-5075358 cùng bản photo giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 018514 của xe mô tô mang BKS 67L1- 599.60 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh ngọc, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA390XHY089394, số máy: JA39E – 0789547 hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên tạm giao cho Cơ quan thi hành án dân sự quận BĐ tiếp tục quản lý và tìm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm. Hết thời hạn trên mà không tìm được chủ sở hữu thì sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đen SK: RLHJA3903HY491957; SM: JA39E-0467090 đã xác định chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Q và chị Nguyễn Thị Hương G nên cần trả lại cho bà Q và chị G.

- Đối với 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đỏ SM: RLHJA3908HY004011; SK: JA39E-0004051 đã xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Quốc H nên cần trả lại cho anh H.

- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có số khung: RLHJA3915KY056695; số máy: JA39E-0912757 đã xác định chủ sở hữu là anh Phạm Anh T nên cần trả lại cho anh T.

- Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu ghi xám, không đeo BKS có SM: RLHHC1219DY411975, SK: HC12E-541223 đã xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn C nên cần trả lại cho anh C.

- Đối với chiếc xe 01 xe máy nhãn Honda Wave màu đen, khong đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3908HY648852, số máy: JA39E – 0623975 đã xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Đức D nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh D là đúng quy định pháp luật.

- Tịch thu tiêu hủy 01 biên lai thu tiền lệ phí số 0053980 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe máy số XMTD 190001724.

- Truy thu số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo hưởng lợi bất chính từ hành vi phạm tội.

Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 323; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự 2015.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/9/2020 đến ngày 02/10/2020.

Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù của Bản án phúc thẩm số 385 ngày 29/06/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt của cả 02 bản án là 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/9/2020 đến ngày 02/10/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 228 Bộ luật dân sự 2015:

- Tách phần xử lý tang vật và giao cho cơ quan Công an quận BĐ tiếp tục quản lý, tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành đối với 02 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xám, đeo BKS: 67L1-599.60, số khung RLHH125XFY748280, số máy HC12E-5748270 cùng bản photo giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 018514 của xe mô tô mang BKS 67L1- 599.60 và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có SK: 099286; SM: 0955701 và giấy hẹn mang tên Đào Minh T.

- Trả lại cho chị Nguyễn Hải Y chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Zip, đeo BKS: 30K4- 2904, SK: 15743; SM: 520000015434 và bản photo giấy đăng ký xe mô tô xe máy số 013765 của xe mô tô mang BKS 30K4-2904.

- Tạm giao cho Cơ quan thi hành án dân sự quận BĐ tiếp tục quản lý và tìm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm đối với 02 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha đeo biển kiểm soát 29H1- 398.55; số khung: RLHHC1214DY075216; số máy: HC12E-5075358 và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh ngọc, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA390XHY089394, số máy: JA39E – 0789547. Hết thời hạn trên mà không tìm được chủ sở hữu thì sung quỹ Nhà nước.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Q và chị Nguyễn Thị Hương G 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đen SK: RLHJA3903HY491957; SM: JA39E-0467090.

- Trả lại cho anh Nguyễn Quốc H 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha màu đỏ SM: RLHJA3908HY004011; SK: JA39E-0004051.

- Trả lại cho anh Phạm Anh T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không đeo BKS, có số khung: RLHJA3915KY056695; số máy: JA39E-0912757.

- Trả lại cho anh Nguyễn Văn C 01 chiếc xe máy Honda Wave màu ghi xám, không đeo BKS có SM: RLHHC1219DY411975, SK: HC12E-541223.

- Tịch thu tiêu hủy 01 biên lai thu tiền lệ phí số 0053980 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe máy số XMTD 190001724.

Các tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận BĐ theo Biên bản giao nhận vật chứng số 23 ngày 10/11/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận BĐ và Chi cục Thi hành án dân sự quận BĐ.

- Truy thu số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo hưởng lợi bất chính từ hành vi phạm tội theo Biên lai thu tiền số 0052581 ngày 15/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận BĐ.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ