vanban.org

Bản án 31/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Tuyên án 16/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Văn Tr - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN BÌNH
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31 /2022/HSST
Ngày: 16- 12 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Kim Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:- Bà Phan Thanh Yên.

- Ông Trần Ngọc Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên tòa: Nguyễn Huy Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2022/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét sử số 34 /2022/QĐXXST-HS ngày 30/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đối với bị cáo:

Bàn Văn Tr (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03 tháng 03 năm 1990 tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; trú tại: Thôn Đồi Hồi, xã T.H, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp 4/12; dân tộc: Dao; giới tính nam; tôn giáo: Không; con ông Bàn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955; vợ: Lý Thị H sinh 1993, Thôn Đ.H, xã T.H, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; Con: có 02 con, lớn sinh 2011, nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án; tiền sự : Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2022, hiện bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Duy – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái. Có mặt.

Người làm chứng:

1- Bàn Văn Hưởng : Trại tạm giam công an tỉnh Yên Bái.( vắng mặt)

2- Nguyễn Văn Kết: Thôn Đồi Mồi, xã T.H, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái

( vắng mặt).

Người chứng kiến: Anh Vương Văn Thái: Thôn Khuân La, xã T.H, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 50 phút, ngày 07/9/2022, tại thôn Đồi Hồi, xã T.H, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Tổ công tác Công an xã T.H, huyện Yên Bình tiến hành kiểm tra đối với Bàn Văn Tr; Bàn Văn Tr tự giác giao nộp một gói giấy màu trắng có dòng kẻ ô li bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là heroine); ngoài ra, công an còn thu giữ của Bàn Văn Tr: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; và số tiền 1.310.000đ (một triệu ba trăm mười nghìn đồng). Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bàn Văn Tr, cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ đồ vật gì liên quan đến ma tuý. Theo kết luận giám định số 490, ngày 13/9/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái: Chất bột nén màu trắng thu giữ của Bàn Văn Tr có tổng khối lượng: 1,29gam (một phảy hai chín gam), trích 0,09 gam giám định kết quả là Heroine. Theo kết luận giám định số 491, ngày 15/9/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái: Toàn bộ số tiền thu giữ của Bàn Văn Tr: 1.310.000đ là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Bàn Văn Tr khai nhận toàn bộ số chất bột nén bị thu giữ là ma túy của Bàn Văn Tr cất giữ nhằm mục đích để bán kiếm lời. Về nguồn gốc số ma túy này, Bàn Văn Tr khai nhận ngày 05/9/2022 tại địa phận xã Tân Nguyên, huyên Yên Bình, tỉnh Yên Bái, Bàn Văn Tr gặp và mua của một người nam giới không biết tên tuổi địa chỉ 01 gói may tuý (hê rôin) với số tiền 2.000.000đ ( hai triệu đồng) Bàn Văn Tr đã sử dụng một ít số còn lại Tròn chia số ma tuý thành 04 gói ( gồm 03 gói nhỏ và 01 gói to) cất giữ mục đích để bán kiếm lời. Trong hai ngày ngày 06/9/2022 và ngày 07/9/2022 Bàn Văn Tr đã 04 lần bán ma tuý cho Bàn Văn Hưởng, sinh năm 2002 và Nguyễn Văn Kết, sinh năm 1993 cùng trú tại thôn Đồi Hồi, xã T.H, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 15h ngày 06/9/2022 Bàn Văn Tr bán cho Bàn Văn Hưởng 01 gói ma túy với số tiền 100.000đ.

Lần thứ 2: Khoảng 17h ngày 06/9/2022 Bàn Văn Tr bán cho Nguyễn Văn Kết 01 gói ma túy với số tiền 100.000đ.

Lần thứ 3: Khoảng 10h ngày 07/9/2022 Bàn Văn Tr bán cho Nguyễn Văn Kết 01 gói ma túy với số tiền 100.000đ.

Lần thứ 4: Khoảng 13h ngày 07/9/2022 Bàn Văn Tr bán cho Bàn Văn Hưởng 01 gói ma túy với số tiền 100.000đ.

Số ma tuý còn lại Bàn Văn Tr cất giấu nhằm mục đích để bán nhưng chưa kịp bán đã bị cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang.

Cáo trạng số 31/CT-VKS-YB ngày 04/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã truy tố: Bàn Văn Tr về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, phạt Bàn Văn Tr từ 08 năm đến 08 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phat bổ xung đối với bị cáo vì bị cáo thuộc đối tượng hộ nghèo.

Đề nghị xử lý vật chứng và tuyên án phí theo quy định.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được qui định trong Bộ luật. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc để áp dụng mức hình phạt thấp trong khung hình phat đối với bị cáo.

Bị cáo khai báo thành khẩn và nhất trí với lời luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã đầy đủ, khách quan, hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo Bàn Văn Tr phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập, có đủ cơ sở xác định: Ngày 07/9/2022, tại thôn Đồi Hồi, xã T.H, huyện Yên Bình , Công an xã T.H, huyện Yên bình, tỉnh Yên Bái bắt quả tang Bàn Văn Tr tàng trữ tổng số 1,29 gam Heroine với mục đích để bán kiếm lời, tại cơ quan điều tra Bàn Văn Tr khai nguồn gốc ma tuý vào ngày 05/9/2022 tại địa phận xã Tân Nguyên, huyên Yên Bình, tỉnh Yên Bái, Bàn Văn Tr gặp và mua của một người nam giới không biết tên tuổi địa chỉ 01 gói may tuý (hê rôin) với số tiền 2.000.000đ ( hai triệu đồng) Bàn Văn Tr đã sử dụng một ít, số còn lại Tròn chia số ma tuý thành 04 gói ( gồm 03 gói nhỏ và 01 gói to) cất giữ mục đích để bán kiếm lời. Trong hai ngày ngày 06/9/2022 và ngày 07/9/2022 Bàn Văn Tr đã 04 lần bán ma tuý cho Bàn Văn Hưởng và Nguyễn Văn Kết được tổng số tiền 400.000đ ( thời gian, địa điểm bán như đã nêu trên phần nội dung vụ án).Do đó đã đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo Bàn Văn Tr là người có đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi hoạt động của bản thân, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật hình sự, bị cáo cũng nhận thức được tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ con người và với đời sống xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích kiếm lời. Hành vi do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến các quy định về quản lý, sử dụng các chất ma tuý của Nhà nước ta. Hành vi do bị cáo thực hiện gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trong khu vực và trật tự an toàn xã hội. Do đó, việc truy tố và đưa ra xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.

Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo tự giác giao nộp ma túy khi chưa bị phát hiện, tự khai các lần phạm tội trước đó, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xác định bị cáo không có tài sản riêng có giá trị gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên xét thấy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với những người nam giới bán ma túy cho Bàn Văn Tr trước đó, do bị cáo Tròn không biết họ tên, địa chỉ của người này nên không đủ căn cứ để xác minh, xử lý trong vụ án này.

. Với số tiền Bàn Văn Tr đã 04 lần bán ma tuý cho Bàn Văn Hưởng và Nguyễn Văn Kết được tổng số tiền 400.000đ cần truy thu xung vào ngân sách nhà nước.

. Đối với Bàn Văn Hưởng và Nguyễn Văn Kết đã mua ma tuý của Bàn Văn Tr về sử dụng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với hai đối tượng này là phù hợp đúng qui định pháp luật.

. Về vật chứng:

- Số tiền 1.310.000đ thu giữ của bị cáo xác định không liên quan đến ma tuý cần trả lại cho bị cáo. Nhưng cần tuyên tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Đối với chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng thu giữ của bị cáo, xác định không liên quan đến tội phạm cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là có căn cứ đúng theo qui định pháp luật.

- Đối với 1,29 gam là ma túy, loại Heroin thu giữ của bị cáo Bàn Văn Tr đã trích 0,09gam giám định, còn lại 1,2 gam cần tịch thu tiêu huỷ;

Còn vật chứng khác thu theo hồ sơ vụ án xét không có giá trị sự dụng cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.

. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Bàn Văn Tr 08 năm 3 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2022.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1.Truy thu xung quỹ nhà nước số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Bàn Văn Tr.

3.2. Xử lý vật chứng tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình và Công an huyện Yên Bình ngày 15/11/2022 như sau:

- Trả lại cho bị cáo Bàn Văn Tr nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án: Số tiền 1.310.000đ đ (đựng trong phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành tại mục số 04 của Biên bản giao nhận vật chứng).

-Tịch thu tiêu huỷ: 1,2gam He roine của Bàn Văn Tr đựng trong 01 phong bì màu trắng do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành ( Tại mục 1 của Biên bản giao nhận vật chứng) 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong bên trong không chứa gì; 01 mảnh giấy màu trắng, có dòng kẻ ô ly, bên trong không chứa gì.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo Bàn Văn Tr được miễm tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Cỡ chữ