- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A K phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2022/HSST Ngày 30/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S, TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Đức Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tuấn..
2. Ông Sùng A Cở.
-Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Thanh Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2022 TLST- HS, ngày 18 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/QĐXXST- HS ngày 19/8 /2022 đối với bị cáo:
Sùng A K (tên gọi khác: Không) sinh ngày 11/02/1997, tại thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn S, xã N, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 09/12 ; Dân tộc: H Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Sùng A D, sinh năm 1973 và bà Hạng Thị S, sinh năm 1975.
Cùng trú tại:, Thôn S, xã N, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Vợ, con: Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Lý Thị C, sinh năm 2000, có 01 con chung sinh năm 2017.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Về nhân thân: Bị cáo là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2022. Hiện đang tạm giam tại nhà tam giữ Công an thị xã S, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Khoa là bà Nông Thị Thúy H - Trợ giúp viên trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau: Khoảng 08 giờ 00 ngày 17/6/2022 tại khu vực thôn L, xã Ngũ C, thị xã S, Công an xã N phát hiện bắt quả tang Sùng A K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của Sùng A K 01 gói ni lon màu xanh, bên trong là 02 gói ni lon màu trắng, trong mỗi gói chứa chất bột khô màu trắng, vón cục K khai nhận là Hê rô in bị cáo mua để sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu DETECH màu xanh BKS 24B2 - 56832 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu trắng.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định đã xác định chất bột khô màu trắng, vón cục đã thu giữ của Sùng A K có khối lượng là 0,23 gam, trích mẫu 0,08 gam giám định còn lại 0,15 gam được tái niêm phong gửi lại cơ quan trưng cầu.
Kết luận giám định về ma túy số 159/GĐMT ngày 20/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,23 (không phẩy hai mươi ba) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Sùng A K là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
Sùng A K khai về nguồn gốc số ma túy trên. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 17/6/2022 bị cáo K mua của Thào Thị M, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn L, xã N, thị xã S với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), trên đường về thì bị bắt quả tang., thu giữ toàn bộ số ma túy đã mua.
Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Sùng A K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xa S, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Sùng A K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng A K từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,15 gam Hê rô in còn lại sau trích mẫu giám định và 01 mảnh ni lon màu xanh, 02 mảnh ni lon màu trắng được tái niêm phong trong bì thư. Đối với 01 điện thoại OPPO A57 màu trắng là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo K, không liên quan vụ án, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi án.
+ Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của người bào chữa: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ cho rằng: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S truy tố bị cáo Sùng A K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo K mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 năm tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thị xã S, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo, người bào chữa không có khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Sùng A K đã
khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đã truy tố và đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ kết luận, bị cáo Sùng A K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự mua 0,23 gam Hê rô in cất giấu với mục đích để sử dụng đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Sùng A K đã thực hiện là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự, trị an ở địa phương, làm lan tràn tệ nạn nghiện ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe, suy thoái giống nòi, là mầm mống dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, góp phần đẩy lùi và loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Cần phải đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật và quyết định mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Sùng A K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo.
Về mức hình phạt đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật. Được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Sùng A K là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có lợi nhuận, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng gồm: 0,23 gam Hê rô in thu giữ của bị cáo, trích mẫu 0,08 gam giám định không hoàn lại, còn 0,15 gam Hê rô in là vật cấm tàng trữ; các mảnh ni lon và bì niêm phong ban đầu, không có giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu hủy.
về những vấn đề liên quan đến vụ án:
- Đối với Thào Thị M bị cáo Sùng A K khai đã bán ma túy cho K ngày 17/6/2022 tại thôn L, xã N, thị xã S. Do ngoài lời khai của bị cáo K ra không có chứng cứ nào chứng minh. Nên không đủ căn cứ để xử lý.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu DETECH mau xanh BKS 24B2 - 56832 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu trắng thu giữ của bị cáo không phải là vật chứng của vụ án, cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho chủ sở hữu là ông Sùng A D là đúng quy định. Còn lại chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu trắng là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo K, nhưng do bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm. Nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Sùng A K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a,c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A K phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A K 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 17/6/2022.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: 0,15 (không phẩy mười năm) gam Hêrôin cùng các mảnh ni lon màu xanh, màu trắng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định, được tái niêm phong trong bì thư in sẵn của phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Sùng A K ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại thôn L, xã N, thị xã S, tỉnh Lào Cai”.
- Tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu trắng của bị cáo Sùng A K để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Sùng A K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND thị xã; - Bị cáo; - Phòng hồ sơ NV Công an tỉnh; - CCTHADS thị xã; - CQCSĐT Công an thị xã; - CQTHAHS Công anthị xã ; - Sở Tư pháp tỉnh Lào cai; - Lưu HS- VP - THS-THAHS (6); | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Đức Quang |