vanban.org

Bản án 31/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 05/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê L: 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ và tạm giam 04/5/2022. Vật chứng vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HSST
Ngày: 05/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Không

2/ Bà Vũ Thị Thùy Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2022/TLST - HS ngày 08/7/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST - HS ngày 22/7/2022 đối với bị cáo:

Lê L, sinh năm 1989, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 9, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: thiên chúa; con ông: Lê Đào, sinh năm 1964 (còn sống) và bà Võ Thị Ánh, sinh năm 1966 (còn sống); có vợ tên Phạm Thị Thu Hiền, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không.

- Nhân thân:

Ngày 27/5/2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Mỹ ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Đồng Nai với thời hạn là 24 tháng về hành vi sử dụng ma túy. Chấp hành xong ngày 12/6/2015.

Ngày 31/12/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai với thời hạn là 18 tháng. Chấp hành xong ngày 15/3/2021.

- 1 -

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/5/2022 và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, đến ngày 01/6/2022 chuyển về tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Mỹ cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Đ, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 9, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Xuân H, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

2. Huỳnh Văn Cang, sinh năm 1939 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu 3, thị trấn G, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

- Người chứng kiến: chị Phạm Thị H1, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 8, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê L là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 11 giờ 00 giờ, ngày 04/5/2022, L mượn xe môtô nhãn hiệu honda Wave RSX, biển kiểm soát: 60B5-070.67 của cha ruột là Lê Đ, sinh năm 1964, nơi thường trú ấp 9, xã S, huyện C đi từ nhà tại ấp 9, xã S, huyện C đến khu vực ngã tư Lò Than thuộc xã B, huyện C gặp một người đàn ông tên Út (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, L hỏi mua thì Út đồng ý bán cho L 23 đoạn ống hút nhựa, được hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy loại Heroin với số tiền là 1.500.000 đồng. Sau khi mua xong L cất giấu số ma túy vào trong người, rồi điều khiển xe môtô về nhà. Khi về đến nhà L lấy ra 01 đoạn ống hút nhựa để sử dụng, còn lại 22 đoạn ống hút nhựa L để trong một bịch nilong và cầm ở tay phải và điều khiển xe biển kiểm soát: 60B5-070.67 đi mua card điện thoại, khi đến đoạn đường tỉnh lộ 764 thuộc ấp 1, xã Sông Ray, huyện Cẩm Mỹ lực lượng Công an đang tuần tra phát hiện bị cáo L có biểu hiện nghi vấn phạm tội nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Quá trình kiểm tra lực lượng Công an phát hiện thu giữ trong tay phải của bị cáo L có 22 đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

Tại bản kết luận giám định số: 958/KL-KTHS ngày 10/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong thu giữ của đối tượng Lê L gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,7207gam, loại Heroin.

* Về vật chứng vụ án:

- 2 -

+ 0,6921 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì ký hiệu số 958/KLGĐ-PC09.

+ 01 xe môtô nhãn hiệu honda Wave RSX, biển kiểm soát: 60B5-070.67 do ông Lê Đ, sinh năm 1964, thường trú tại ấp 9, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai là chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định ông Đ không biết việc Lê L sử dụng xe môtô trên để đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ ra Quyết định trả lại cho ông Lê Đ theo quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Đào đã nhận lại toàn bộ tài sản của mình và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKSCM ngày 06/7/2022, Viện Kiểm sát nhân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố bị cáo Lê L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam. Về vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong ma túy còn lại sau giám định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: vì muốn có ma túy để sử dụng bị cáo L đã mua ma túy của đối tượng tên Út không rõ nhân thân lai lịch. Đến khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 04/5/2022, tại đoạn đường tỉnh lộ 764 thuộc ấp 1, xã S, huyện C lực lượng Công an đang tuần tra phát hiện bị cáo L đang tàng trữ 22 đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tại bản kết luận giám định số 958/KL-KTHS ngày 10/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong thu giữ của đối tượng Lê L gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,7207gam, loại Heroin. Do đó, hành vi của bị cáo Lê L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- 3 -

[3] Xét hành vi của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là công dân đã trưởng thành và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái pháp chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Từ những nhận xét, đánh giá nêu trên xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.

[4] Về vật chứng:

+ 01 gói niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, số 958/KL-KTHS ngày 10/5/2022, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,6921 gam ma túy loại Heroin là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 xe môtô nhãn hiệu honda Wave RSX, biển kiểm soát: 60B5-070.67 Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý xong nên không xem xét.

[5] Đối với người tên “Út” đã bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Lê L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê L: 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ và tạm giam 04/5/2022.

2. Vật chứng vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 0,6921 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu số 958/KLGĐ-PC-09 ngày 10/5/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/7/2022.

- 4 -

3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

`

Cỡ chữ