vanban.org

Bản án 31/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 25/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường T và Dương Thị Bích Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2021. Xử phạt bị cáo Dương Thị Bích Th 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường T và Dương Thị Bích Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HS-ST.
Ngày: 25-5-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Bùi Văn Dũng;

2/ Ông Lê Quang Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lâm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2022/TLST-HS, ngày 16 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2022/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 5 năm 2022, đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Trường T, sinh năm 1990, tại Đồng Tháp; nơi thường trú: Tổ A, ấp TC, xã TTT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; ôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; cha: Nguyễn Trường T; mẹ: Nguyễn Thị Bích D; vợ đã ly hôn, có 01 người con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 22/10/2021; tạm giam ngày 28/10/2021, đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

2/ Dương Thị Bích Th, sinh năm 1996, tại Đồng Tháp; nơi thường trú: Tổ A, ấp TC, xã TTT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; Cha: Dương Hồng S; mẹ: Nguyễn Thị Cẩm T; chồng: Nguyễn Văn G; có 02 người con, sinh năm 2014 và 2017; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1/ Lê Văn D, sinh năm 1999, địa chỉ: Ấp TT, xã TT, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Vắng mặt).

2/ Lê Vũ S, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp TT, xã TT, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trường T và Dương Thị Bích Th sống chung với nhau tại phòng 5C nhà trọ Tiên Nhi, số 257 Lộ Hòa Đông, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh và đều nghiện ma túy (đá) từ tháng 3/2021. Ngày 21/10/2021, T liên lạc với người tên B (không rõ đặc điểm nhân thân) hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy và hẹn giao dịch gần khu vực quán Karaoke Tuấn Giang thuộc phường Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh. Sau đó, T một mình chạy xe mô tô Exciter màu xanh-trắng biển số 66F1-088.63 của mình đến gặp nhau ở điểm hẹn, T đưa 1.960.000 đồng cho B và nhận từ B 01 bịch ma túy đem về phòng trọ. Tại đây, T đưa bịch ma túy vừa mua được cho Th để sang chiết ra bán lại kiếm lời. Th lấy ống hút nhựa cắt nhọn 01 đầu chế làm máng xúc, xúc ma túy từ bịch nylon lớn sang bịch nylon nhỏ đưa cho T kiểm tra thiếu, đủ khối lượng rồi T dùng bật lửa hơ nóng bịch nylon và dùng kéo kẹp kín lại, T và Th chiết ra được 13 tép nhỏ giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, ma túy còn dư một ít cả hai cùng sử dụng hết và một mình T sử dụng thêm 01 tép ma túy. Còn 12 tép ma túy T cất giấu, khi nào có người mua liên lạc với Th thì Th liên lạc báo cho T biết, Tuấn sẽ đưa ma túy cho Th đi bán, cụ thể các lần như sau:

Lần thứ nhất: Đầu giờ chiều ngày 21/10/2021, Lê Quang D và Lê Vũ S gặp nhau rủ hùn tiền mua ma túy sử dụng, S đưa 200.000 đồng cho D cất giữ. Thông qua mối quan hệ ngoài xã hội, D xin được số điện thoại 0766.876.554 của Thảo, D gọi điện thoại cho Th xưng tên Vũ S và hỏi mua 500.000 đồng ma túy, Tha kêu D chờ Th gọi điện thoại lại. Lúc này, Th đang ở với T trong phòng 5C nhà trọ Tiên Nhi, Th nói "Có thằng em lấy 01 cái, đưa cho nó lấy tiền đi siêu âm luôn" (nghĩa là Th nói với T: Có thằng em mua 01 tép ma túy, bán cho nó lấy tiền Th đi siêu âm thai), T lấy 01 tép ma túy đưa cho Th, rồi Th một mình chạy xe Exciter biển số 66F1-088.63 đến gần văn phòng Ban dân dân ấp Hòa Khánh trong Khu dân cư Hòa An- phường 4, thuộc ấp Hòa Khánh, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh và gọi điện thoại hẹn cho D đến giao dịch, Th lấy bịch nylon đựng đậu phộng bỏ tép ma túy vào rồi ném xuống mép đường bên tay phải hướng về quán Hải Sơn. Khoảng 10 phút sau, S chạy xe Sirius màu trắng chở D đến, D đưa cho Th 500.000 đồng, Th nói và chỉ bịch ma túy ở dưới đất. D nhặt tép ma túy đem về cùng S sử dụng hết, còn Th lấy tiền vừa bán ma túy đi siêu âm thai và mua đồ ăn.

Lần 2: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22/10/2021, Lê Quang D và Lê Vũ S uống cà phê tại quán MT thuộc phường Mỹ Phú, S hùn 200.000 đồng đưa cho D cất giữ để mua ma túy sử dụng, D gọi điện thoại đến số 0766.876.554 của Th xưng tên Vũ S và hỏi mua 500.000 đồng ma túy và hẹn địa điểm giao dịch như lần thứ nhất. Lúc này, Th đang ở nhà tại xã Tân Thuận Tây nên nhắn tin cho T qua ứng dụng Messenger nói có một người bạn của Th hỏi mua 01 tép ma túy giá 200.000 đồng, T trả lời hết tép 200.000 đồng chỉ còn tép 300.000 đồng, nếu lấy thì cho nợ 100.000 đồng, đồng thời kêu Th thay đổi địa điểm giao dịch, cẩn thận để người mua không trả tiền và bị Công an phát hiện. Th điện thoại kêu Dũng chạy xe vô đi gần tới điểm hẹn thì điện thoại, Th chạy xe Exciter biển số 66F1-088.63 từ nhà đến phòng 5C nhà trọ Tiên Nhi, T đưa 01 tép ma túy cho Th cầm trên tay trái đi ra. Khi Th vừa bước ra ngoài dẫn xe đi thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đồng Tháp phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh và Công an xã Hòa An bắt giữ cùng tang vật.

Nghe tiếng Th la lên và thấy lực lượng Công an, Tuấn chạy vào nhà vệ sinh xé bịch ma túy vứt vào bồn cầu định phi tang nhưng lực lượng Công an nhanh chóng tung cửa ngăn chặn bắt giữ T trước khi dội nước, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 13 giờ cùng ngày. Lúc này, S chạy xe chở D đến điểm hẹn với Th để giao dịch mua bán ma túy, nhưng không thấy nên S chở D ngang qua nhà trọ của Th thì thấy lực lượng Công an nên Sang chở D bỏ đi luôn.

Tang vật tạm giữ gồm:

- 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng thu giữ trong lòng bàn tay trái của Th, niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A1, đóng dấu của Công an xã Hòa An và các chữ ký ghi họ tên Điều tra viê và những người chứng kiến;

- 10 bịch nylon màu trắng hàn kín, bên trong đều chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng thu giữ bên trong bồn cầu nhà vệ sinh phòng trọ 5C nhà trọ Tiên Nhi. Niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A2, đóng dấu của Công an xã Hòa An và các chữ ký ghi họ tên Điều tra viên và những người chứng kiến;

- 01 bịch nylon màu trắng đã bị xé, bên trong không có gì, 01 bình nhựa có nắp màu đỏ khoét 02 lỗ tròn, một lỗ gắn với đoạn ống hút nhựa màu trắng một lỗ gắn với nỏ thủy tinh, 01 chai gas nhỏ hiệu NaMilux, 02 bật lửa, 01 miếng nylon màu trắng, 01 đoạn ống hút màu trắng, 01 đoạn ống hút màu trắng một đầu cắt xéo, 01 đoạn ống hút màu trắng một đầu hàn kín một đầu cắt xéo, 01 bịch nylon nắp kẹp màu trắng, tất cả đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Viettel màu đỏ-đen, gắn sim 0971.244.668 và 01 điện thoại di động iPhone màu trắng-đen, gắn sim 0766.876.554 của Thảo.

- 01 điện thoại di động iPhone màu trắng-hồng, gắn sim 0901.039.301, không kiểm tra chất lượng bên trong và 1.600.000 đồng của T.

- 01 xe mô tô EXCITER màu xanh-trắng biển số 66F1-088.63, kèm theo giấy đăng ký xe tên Nguyễn Trường T.

Xử lý tang vật: Đối với 01 điện thoại di động Viettel màu đỏ-đen, gắn sim 0971.244.668 của Dương Thị Bích Th không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Th. Đối với 1.600.000 đồng là tài sản cá nhân của T không liên quan đến việc phạm tội, T đồng ý khấu trừ vào tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng từ việc bán ma túy mà có.

Căn cứ Kết luận giám định số 880/KL-KTHS ngày 24/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A1 gửi đến giám định là ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,257 gam. Tinh thể rắn chứa trong 10 bịch nylon màu trắng hàn kín, niêm phong trong bao thư màu trắng ký hiệu A2 gửi đến giám định đều là ma túy Methamphetamine, tổng khối lượng 2,501 gam.

Kết quả xác định tình trạng nghiện của T, Th, D, S đều dương tính với ma túy Methamphetamine.

Ngoài ra, T còn khai nhận, trước đó, trong tháng 10/2021, tại khu vực nhà máy xử lý nước sinh hoạt tại ấp Đông Bình, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, T một mình bán 01 tép ma túy giá 300.000 đồng cho một người tên Điền nhưng không rõ nhân thân, địa chỉ. Chỉ có lời khai nhận duy nhất của T nên không đủ căn cứ chứng minh buộc tội lần bán ma túy này của T.

Tại cáo trạng số 20/CT-VKSTPCL, ngày 16/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố các bị cáo, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 07 năm 06 tháng đến 8 năm tù, xử phạt bị cáo Th từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên không áp dụng phạt tiền; về vật chứng đề nghị tuyên như cáo trạng đã nêu.

Các bị cáo hiện có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng phạt bổ sung tiền.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi của bị cáo bị truy tố: Nguyễn Trường T và Dương Thị Bích Th là người nghiện ma túy, do không có tiền sử dụng ma túy nên Tuấn mua 2,758 gam ma túy Methamphetamine về cùng với Th sang chiết nhỏ ra, mục đích để bán lại kiếm lời. Lúc 13 giờ ngày 22/10/2021, sau khi thỏa thuận bán 500.000 đồng ma túy cho Lê Quang D và hẹn địa điểm giao dịch, Th nói cho T biết và Tuấn đưa cho Th 01 bịch ma túy để đi bán cho D. Th cầm 01 bịch ma túy Methamphetamine khối lượng 0,257 gam trong lòng bàn tay trái đi ra từ phòng 5C nhà trọ Tiên Nhi, số 57 lộ Hòa Đông, tổ 17, ấp Hòa Khánh, xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh để đem đến điểm hẹn bán cho D thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Ngoài ra vào ngày 21/10/2021, T đã đưa cho Th 01 bịch ma túy (không rõ khối lượng) đem bán cho Lê Quang D với giá 500.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo T và Th thừa nhận hành vi như cáo trạng đã nêu, phù hợp với biên bản bắt quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng với quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định.

Các bị cáo đều là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, bị cáo T và Th đã hai lần thực hiện hành vi bán ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của các bị cáo là cố ý xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo T và Th đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức rất rõ ma túy là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của mỗi con người, mỗi gia đình và tòan xã hội. Chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả do hành vi của mình gây ra cho xã hội. Do đó cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo sau khi phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, riêng bị cáo Th phạm tội khi đang mang thai, bị cáo T nộp lại số tiền bán ma túy, quy định tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, bị cáo T là người trực tiếp mua ma túy về cùng với Th chiếc nhỏ để bán, hành vi của T tích cực hơn, nên phải chịu mức án nặng hơn bị cáo Th.

Về vật chứng, căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo T đồng ý nộp lại, để trừ vào tiền bán ma túy.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước những phương tiện của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, gồm: 01 xe mô tô hiệu EXCITER màu xanh-trắng, biển số 66F1-088.63, số máy: 55P1-078454 (kèm theo giấy đăng ký xe) và 01 điện thoại di động iPhone màu trắng-hồng, gắn sim 0901.039.301, IMEI: 352996097544699, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong của Nguyễn Trường T; 01 điện thoại di động iPhone màu trắng-đen, gắn sim 0766.876.554, IMEI: 359484084407314 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong của Dương Thị Bích Th.

- Tịch thu tiêu hủy những vật cấm, sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị, gồm: 02 bao thư chứa chất ma túy còn lại sau giám định được gián giấy niêm phong lần lượt là: "Niêm phong số: 898/A1, ngày 22/10/2021" và "Niêm phong số: 898/A2, ngày 22/10/2021"; 01 bình nhựa có nắp màu đỏ khoét 02 lỗ tròn, một lỗ gắn với một đoạn ống hút nhựa màu trắng, một lỗ gắn với một nỏ thủy tinh, đã qua sử dụng; 01 chai gas loại nhỏ hiệu NaMilux, đã qua sử dụng; 02 bật lửa, đã qua sử dụng; 01 miếng nylon màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo, đã qua sử dụng; 01 bịch nylon nắp kẹp màu trắng, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trường T số tiền 1.100.000 đồng là tiền cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội.

Về hình phạt tiền: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng phạt bổ sung tiền.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường T và Dương Thị Bích Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2021.

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, n khoản 1, Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Dương Thị Bích Th 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tồ tụng hình sự

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 5.00.000 đồng tiền bán ma túy của bị cáo Tuấn.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước những phương tiện của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, gồm: 01 xe mô tô hiệu EXCITER màu xanh-trắng, biển số 66F1-088.63, số máy: 55P1-078454 (kèm theo giấy đăng ký xe) và 01 điện thoại di động iPhone màu trắng-hồng, gắn sim 0901.039.301, IMEI: 352996097544699, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong của Nguyễn Trường Tuấn; 01 điện thoại di động iPhone màu trắng-đen, gắn sim 0766.876.554, IMEI: 359484084407314 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong của bị cáo Th.

Tịch thu tiêu hủy những vật cấm, sử dụng vào việc phạm tội, gồm: 02 bao thư chứa chất ma túy còn lại sau giám định được gián giấy niêm phong lần lượt là: "Niêm phong số: 898/A1, ngày 22/10/2021" và "Niêm phong số: 898/A2, ngày 22/10/2021"; 01 bình nhựa có nắp màu đỏ khoét 02 lỗ tròn, một lỗ gắn với một đoạn ống hút nhựa màu trắng, một lỗ gắn với một nỏ thủy tinh, đã qua sử dụng; 01 chai gas loại nhỏ hiệu NaMilux, đã qua sử dụng; 02 bật lửa, đã qua sử dụng; 01 miếng nylon màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu cắt xéo, đã qua sử dụng; 01 bịch nylon nắp kẹp màu trắng, đã qua sử dụng.

Trả cho bị cáo Nguyễn Trường T số tiền 1.100.000 đồng.

Vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý.

Về án phí: Các bị cáo T và Th , mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ