- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đức Phong - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ điểm a, khoản 02, Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:31/2022/HS-ST Ngày:03-10-2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Thủy và bà Trần Thị Thu.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trần Nhất Nam, Thư ký Toà án nhân dân huyện P, tỉnh T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh T, tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:
Phan Đức P; sinh ngày 13/11/2002 tại tỉnh T; Nơi thường trú: Thôn 1, xã V, huyện P, tỉnh T; Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Ơ, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982; Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.
Bị hại:
1. Huỳnh Văn L (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn 5, xã V, huyện P, tỉnh T. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982; Trú tại: Thôn 1, xã V, huyện P, tỉnh T. Vắng mặt.
2. Chị Lương Thị D, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn 5, xã V, huyện P, tỉnh T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15’ ngày 28/10/2021, Phan Đức P (không có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe môtô Biển kiểm soát 75F1-4179 kéo theo xe tải kéo phía sau có chở 02 thùng gạch men lưu thông trên đường quốc lộ 49B theo hướng từ xã V đến xã V. Khi đến tại địa điểm Km 75+200 đường quốc lộ 49B đoạn thuộc Thôn 5, xã V, huyện P, Phong điều khiển xe môtô Biển kiểm soát 75F1-4179 chạy với tốc độ khoảng 35-50km/h di chuyển sang làn đường bên trái để vượt xe môtô Biển kiểm soát 75H1-623.21 do ông Huỳnh Văn L (sinh năm: 1962; trú tại: Thôn 5, xã V, huyện P, tỉnh T) điều khiển lưu thông trên đường theo hướng cùng chiều ở phía trước; nên phần hông, lốp bên phải của xe tải kéo do P điều khiển đã va chạm vào phần đầu xe bên trái của xe môtô Biển kiểm soát 75H1-623.21 do ông Huỳnh Văn L điều khiển gây ra tai nạn giao thông.
Hậu quả: ông Huỳnh Văn L bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Trung ương H đến ngày 26/12/2021 thì tử vong; xe môtô Biển kiểm soát 75H1-623.21 bị hư hỏng. Quá trình điều tra, Phan Đức P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. (BL: 100-110)
* Kết quả giám định pháp y: Ngày 26/12/2021, CQĐT huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân chết của ông Huỳnh Văn L. Kết luận Giám định pháp y số 293-21/TT ngày 15/01/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
“1. Chuẩn đoán pháp y: đa chấn thương nặng toàn (vỡ hộp sọ, gẫy cột sống cổ di lệnh) gây chết.
2. Nguyên nhân chết: chấn thương sọ não nặng, không đáp ứng điều trị
kết hợp phẫu thuật lấy máu tụ nội sọ và hồi sức nội khoa.
Loại trừ mọi nguyên nhân khác.”
* Về việc thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) xe môtô Biển kiểm soát 75H1-623.21; 01 (một) xe môtô Biển kiểm soát 75F6-4179 và 01 (một) xe tải kéo. (BL: 75-78)
Cơ quan điều tra đã trả lại xe môtô Biển kiểm soát 75H1-623.21 cho anh Huỳnh Văn T (sinh năm: 1995; trú tại: thôn 5, xã V, huyện P– con của ông Huỳnh Văn L). Trả lại xe môtô Biển kiểm soát 75F6-4179 và xe tải kéo cho bà Nguyễn Thị Thanh T (sinh năm: 1982; trú tại: thôn 1, xã V, huyện P - vợ của chủ xe là ông Phan Ơ).
* Về trách nhiệm dân sự: Phan Đức P đã tự nguyện nhờ gia đình bồi thường cho gia đình nạn nhân ông Huỳnh Văn L số tiền 120.500.000 đồng để khắc phục hậu quả. Đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Huỳnh Văn T (sinh năm: 1995; trú tại: thôn 5, xã V, huyện P– con của ông Huỳnh Văn L) đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Phan Đức P.
- Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKSPV ngày 06/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh T đã truy tố bị cáo Phan Đức P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 02 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh T giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Đức P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 02, Điều 260; các điểm b, s khoản 01; khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo: Phan Đức P từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại vật chứng thu giữ cho các chủ sở hữu, không có ai yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Phan Đức P đã tự nguyện nhờ gia đình bồi thường cho gia đình nạn nhân ông Huỳnh Văn L số tiền 120.500.000 đồng để khắc phục hậu quả. Đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Huỳnh Văn T – con của ông Huỳnh Văn L) đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm, các bên liên quan không có yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên Tòa ngày hôm nay bi cáo Phan Đức P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của người đại diện hơp pháp của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 15phút ngày 28/10/2021, tại khu vực Km 75+200 đường quốc lộ 49B đoạn thuộc Thôn 5, xã V, huyện P, Phan Đức P không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe môtô biển kiểm soát 75F1-4179 kéo theo xe tải kéo va chạm với xe môtô biển kiểm soát 75H1-623.21 do ông Huỳnh Văn L điều khiển. Hậu quả làm ông Huỳnh Văn L chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 2 Điều 14, điểm đ khoản 3 điều 30 Luật Giao thông đường bộ làm chết một người nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang truy tố bị cáo Phan Đức P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với ông Phan Ơ là chủ sở hữu xe môtô Biển kiểm soát 75F1-4179, do thời điểm P sử dụng xe thì ông Ơ không có nhà, P tự ý lấy xe sử dụng mà ông Ơ không biết. Đồng thời, trước đó ông Ơ không giao xe cho P sử dụng nên không có căn cứ để xử lý ông Ơ về hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Phan Đức P, thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển phương tiện giao thông không có giấy phép theo quy định đã gây ra tai nạn giao thông là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả gây thiệt hại là 01 người chết. Hành vi của bị cáo là coi thường pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả về hành vi phạm tội của mình gây ra; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung 2017.
Về biện pháp chấp hành hình phạt: Xét thấy, bị cáo Phan Đức P có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng nào và bị cáo có nhân thân tốt. Mặc khác bị hại có một phần lỗi là điều khiển xe chuyển hướng rẽ sang trái nhưng không chú ý quan sát khi xe phía sau đang vượt lên là vi phạm theo khoản 2 điều 15 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, hậu quả 01 người chết nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 54 để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã thu giữ và ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp gồm những vật chứng sau:
- 01 xe môtô Biển kiểm soát 75H1-623.21 cho anh Huỳnh Văn T (sinh năm: 1995; trú tại: thôn 5, xã V, huyện P – con của ông Huỳnh Văn L).
- 01 xe môtô Biển kiểm soát 75F6-4179 và 01 xe tải kéo cho bà Nguyễn Thị Thanh T (sinh năm: 1982; trú tại: thôn 1, xã V, huyện P - vợ của chủ xe là ông Phan Ơ).
Việc quyết định trả lại vật chứng cho chủ sở hữu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P là đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Phan Đức P đã tự nguyện nhờ gia đình bồi thường cho gia đình nạn nhân ông Huỳnh Văn L số tiền 120.500.000 đồng để khắc phục hậu quả. Đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Huỳnh Văn T– con của ông Huỳnh Văn L) đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm, các bên liên quan không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Đức P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ điểm a, khoản 02, Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Phan Đức P phạm tội “ Vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, khoản 02, Điều 260; các điểm b, s khoản 01; khoản 02 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Bị cáo Phan Đức P 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phan Đức P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - VKSND tỉnh T; - VKSND huyện P; - Công an huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Sở Tư pháp; - UBND xã V - Phòng PV27 - Bị cáo; - ĐDHP của bị hại; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Sơn |