vanban.org

Bản án 31/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 15/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn tám tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HS-ST
Ngày 15 tháng 4 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh H

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Đình Đ

2. Ông Nguyễn Văn H

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Q – Thư ký Toà án nhân dân huyện P, Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Man Anh H - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2022/HSST ngày 10/03/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST - HS ngày 01/4/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN T; Sinh ngày 27 tháng 8 năm 1977, tại P, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm T, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S (đã chết), Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1945; Vợ: Bùi Thị T, sinh năm 1980; Có 02 con: con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến:

1. Anh Phạm Văn T, Sinh năm: 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: xóm T, xã D, huyện P, Thái Nguyên.

2. Anh Đặng Văn M, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm T, xã D, huyện P, Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 19/01/2022, tổ công tác Công an xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm T, xã D, thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực đường bê tông thuộc xóm T có một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đến địa điểm trên thì thấy có 01 người đàn ông tự khai tên là Nguyễn Văn T, sinh năm 1977, trú tại xóm T, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đồng thời T đã tự giác lấy từ lòng bàn tay trái của T ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng theo T khai nhận là ma túy Heroine của T vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói chất bột dạng cục màu trắng T khai là ma túy (ký hiệu A) theo quy định sau đó bàn giao T cùng vật chứng về Công an huyện P để điều tra theo thẩm quyền.

Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Văn T tại xóm T, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nhưng khi thi hành lệnh khám xét xác định chỗ ở của Nguyễn Văn T đang có người bị nhiễm Covit phải cách ly y tế nên không thi hành được lệnh.

Hồi 18 giờ 30 phút ngày 19/01/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành mở niêm phong (ký hiệu A) cân số chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của T có khối lượng là 0,173 gam. Lấy toàn bộ 0,173 gam niêm phong vào bì thư (Ký hiệu A1) gửi phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để giám định. Tại bản kết luận giám định số 298/KL- KTHS ngày 27/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì (ký hiệu A1) gửi đi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,173 gam.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận: Do bản thân là người nghiện chất ma túy nên khoảng 9 giờ 00 phút ngày 19/01/2022, T đi bộ một mình đến khu vực cánh đồng thuộc xóm T, xã D huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy. Tại đây T có hỏi và mua được của một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ 01 gói ma túy (Heroine) được gói bằng giấy màu trắng với giá 100.000 đồng. Mua được ma túy T cầm trong lòng bàn tay trái đang trên đường đi về nhà mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã D phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn T là có căn cứ, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định; Lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong dán kín (Ký hiệu A1) bên trong có chứa 0,162 gam mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện P chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 26/CT- VKSPB, ngày 09/03/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị với Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 30 đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí HSST xung quỹ Nhà nước.

Thông báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các vật chứng trong hồ sơ của vụ án, do đó có đủ căn cứ để khẳng định:

Hồi 09 giờ 15 phút ngày 19/01/2022, tại khu vực đường bê tông thuộc xóm T, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn T là người nghiện chất ma túy đã có hành vi tàng trữ trên người 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,173 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng. Hành vi đó của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo là người sử dụng ma túy nhiều năm, hành vi của bị cáo xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đều đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện tội phạm của mình, do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1 ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,162 gam ma túy được hoàn lại sau giám định và vỏ mãu A1 vụ Nguyễn Văn T.

. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, mức hình phạt, điều luật áp dụng, hình phạt bổ sung, biện pháp cải tạo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy (Heroine) thu giữ, T khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ ở khu vực cánh đồng thuộc xóm T, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, áp dụng pháp luật:

- Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/01/2022.

Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1 ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,162 gam ma túy được hoàn lại sau giám định và vỏ mẫu A1 vụ Nguyễn Văn T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2022 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án huyện P, tỉnh Thái Nguyên).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

6. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ