vanban.org

Bản án 31/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 25/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm tù, thời hạn thi hành hình phạt tù được Tnh từ ngày 01-3-2022. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH T
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HS-ST
Ngày: 25-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Quang Truyền;

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984, tại T; Nơi cư trú: số nhà 184/3B, Tổ 10, ấp LK, xã LN, thị xã H, tỉnh T; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn 1/12 (biết viết tên); dân tộc: Kinh; giới Tnh: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S và bà Hồng Thị S (đã chết). Vợ Ngô Thị Thanh T và hai con; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 01-3-2022, tạm giam ngày 04-3-2022 đến nay. Có mặt phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Ngô Thanh L, sinh năm 1989, (vắng mặt).

Địa chỉ: số nhà 61A, ấp TA, xã Trường Tây, thị xã H, tỉnh T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ là đối tượng sử dụng ma túy, khoảng 17 giờ ngày 03-8-2021 để có ma túy sử dụng, Đ điểu khiển xe mô tô biển số 72B1-07.54 đến khu vực ấp Trường Thiện, xã Trường Hòa, thị xã H, tỉnh T mua của một người tên T (không rõ nhân thân, địa chỉ) 01 bịch ma túy đá với giá 200.000 đồng đem về để dành sử dụng. Đến 17 giờ 10 phút cùng ngày, trên đường số 24 Ngô Quyền đoạn thuộc ấp TA, xã Trường Tây, thị xã H, tỉnh T, lực lượng Công an xã Trường Tây, thị xã H phát hiện Nguyễn Văn Đ điều khiển xe có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy nên mời về trụ sở test nhanh chất ma túy thì cho kết quả dương tính và phát hiện dưới cẳng tay bên phải của Đ dán dính băng keo với 01 bịch nylon màu trắng loại bóp dính miệng chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu M. Qua test nhanh xác định Đ bị nhiễm Covid-19 nên cơ quan Điều tra cho tại ngoại, sau đó bị cáo bỏ trốn bị truy nã, đến ngày 01-3-2022 ra đầu thú.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

* Tại Kết luận giám định số 1096/KL-KTHS ngày 07-8-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Mấu chất màu trắng bên trong 01 bịch nylon màu trắng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamin; khối lượng 0,2833gam.

Qua xác minh, Nguyễn Văn Đ không có tài sản nên không kê biên.

Đối với người tên T bán ma túy cho Đ hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSHT ngày 14-4-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố trong phần tranh luận: Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và điều luật đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 01 năm đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo xin hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm cải tạo về lao động kiếm tiền cùng vợ nuôi con nhỏ và hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, tỉnh T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 03-8-2021, công an xã Trường Tây nghi vấn bị cáo Nguyễn Văn Đ sử dụng ma túy nên tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ của Bị cáo Đ 01 (một) bịch nylon loại bóp dính miệng bên trong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2833gam. Hành vi của bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV-AIDS và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm khác; nên cần phải có hình phạt tương xứng đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 gói niêm phong ghi vụ số 1096/KL-KTHS có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Phan Quốc Việt và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T; khối lượng sau giám định 0,2355gam là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với một xe mô tô biển số 72B1-00754, nhãn hiệu Wave, màu vàng, VDCWCG055UM802772, số máy VHHJL150FMG 80002772, không có bửng, đã qua sử dụng (kèm theo kết luật giám định số 1250/KL-KTHS, ngày 18-11-2021), qua điều tra xác định được đây là xe của anh Ngô Thanh L, anh Lâm không biết bị cáo sử dụng xe vào mục đích phạm tội do đó cần trả chiếc xe này lại cho anh Lâm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm tù, thời hạn thi hành hình phạt tù được Tnh từ ngày 01-3-2022.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi vụ số 1096/KL-KTHS có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Phan Quốc Việt và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T; khối lượng sau giám định 0,2355gam.

Trả cho anh Ngô Thanh L một xe mô tô biển số 72B1-00754, nhãn hiệu Wave, màu vàng, VDCWCG055UM802772, số máy VHHJL150FMG 80002772, không có bửng, đã qua sử dụng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ