vanban.org

Bản án 31/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 11/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U phạm tội “Đánh bạc”;

Giao bị cáo Hà Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã Cư Mốt, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn H + ĐP phạm tội Đánh Bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HS-ST
Ngày 11-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Khắc Vũ.

2. Bà Phạm Thị Thùy Dung.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Trường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2022, tại phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý 12/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST-HS ngày 15/4/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2022/HSST-QĐ ngày 28/4/2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hà Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1987, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: T3, xã CM, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Đình Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Trần Thị Thanh X và có 02 người con. Con thứ nhất sinh năm 2012, con thứ hai sinh năm 2015;

Tiền án - Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’Leo từ ngày 25/12/2022 đến ngày 03/01/2022. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ và tên: Lê Minh S; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1995, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: T3, xã CM, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn U’ và bà Trần Thị H; Có vợ là H’H Niê và có 01 người con, sinh năm 2021;

Tiền án - Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’Leo từ ngày 25/12/2022 đến ngày 03/01/2022. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Họ và tên: Trần Thị U; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1992, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký HKTT: KV 3, phường TX, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ở hiện nay: T6, xã ER, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần M và bà Hoàng Thị C; Có chồng là Trần Quốc H và có 03 người con. Con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Tại bản án số 335/2012/HSPT, ngày 10/09/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt chính. Bị cáo chưa đóng 400.000 đồng tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm của Bản án số 56/2012/HSST, ngày 04/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, nên chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’Leo từ ngày 25/12/2022 đến ngày 03/01/2022. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1960. Nơi cư trú: T3, xã CM, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; (vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Minh H - sinh năm 1989. Nơi cư trú: T3, xã CM, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; (vắng mặt).

+ Bà Võ Thị Lệ Th – sinh năm 1982. Nơi cư trú: T8, xã ER, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 24/12/2021, Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U, Võ Thị Lệ Th đang ngồi chơi tại T3, xã CM, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì H rủ S, U và Th đánh bạc dưới hình thức chơi bài cào liêng ăn tiền thì S và U đồng ý, riêng Th không đồng ý. Lúc này, H đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ loại 52 quân mang về nhà, trải chăn ra cùng S và U tham gia đánh bạc. Khi đánh bạc H bỏ ra số tiền 4.000.000 đồng, S bỏ ra số tiền 1.000.000 đồng, U bỏ ra số tiền 3.750.000 đồng. Tất cả thống nhất hình thức đánh bài liêng được thua bằng tiền như sau: Theo thứ tự ngồi thành vòng tròn, ba người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia bài theo vòng tròn mỗi người chơi được chia ba quân bài và bắt buộc mỗi người phải đặt số tiền là 50.000 đồng ra chiếu bạc (gọi là đặt tiền mậu). Sau khi xem bài thì người chơi úp bài của mình xuống chiếu và bắt đầu “tố” (đặt thêm) tiền, người chia bài có quyền tố trước, những người còn lại có thể theo, không theo hoặc tố thêm tiền dao động từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, không quá ba lần. Nếu không có người theo thì người tố thêm tiền cuối cùng sẽ thắng được toàn bộ số tiền mà những người chơi đã bỏ ra trong ván bài đó. Cách tính bài như sau: Lớn nhất là ba quân giống nhau, đầu tiên là bài có ba quân A (xì), theo thứ tự nhỏ dần đến quân bài số 2; lớn thứ hai là bài liêng có ba quân liên tiếp nhau (ví dụ 7,8,9); lớn thứ ba là ba quân tiên (ví dụ J, J, K; Q, Q, K…) và cuối cùng là bài tính điểm, lớn nhất là bài chín điểm và theo thứ tự nhỏ dần đến 0 điểm. Cách cộng điểm như sau: Quân bài 10, J, Q, K được tính là 0 điểm; quân A (xì) tính 01 điểm cho đến 9 điểm. Nếu cộng ba quân bài từ 11 đến 19 hoặc 21 đến 29 thì tính từ 01 đến 9 điểm; nếu cộng ba quân bài được 10, 20, 30 thì tính 0 điểm. Sau khi kết thúc ván bài, người thắng sẽ chia bài và tiếp tục chơi ván tiếp theo, khi chơi thì cả ba người không quy định tiền xâu. Đến 13 giờ 35 phút cùng ngày, khi H, S và U đang sát phạt thắng thua thì bị Công an huyện Ea H’Leo và Công an xã Cư Mốt phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ: 8.750.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 cái chăn kích thước 1,6 x2m.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo lập vào lúc 15 giờ 15 phút, ngày 24/12/2021, xác định: Hiện trường xảy ra vụ việc là tại phòng ngủ số 2 của Hà Văn H ở T3, xã CM, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 16/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U phạm tội “Đánh bạc”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án Tòa tuyên.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Minh S từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 25/12/2021 đến ngày 03/01/2022.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị U từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 25/12/2021 đến ngày 03/01/2022.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu sung ngân sách Nhà Nước số tiền 8.750.000 đồng, là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc;

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 cái chăn là tài sản của bị cáo H sử dụng vào mục đích phạm tội, do không còn giá trị sử dụng.

Đối với căn nhà Hà Văn H sử dụng vào việc đánh bạc, là tài sản của bà Nguyễn Thị L, khi H sử dụng vào việc đánh bạc thì bà L không biết nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Các bị cáo Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo về cơ bản phù hợp nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo tại Bản cáo trạng số 17/CT-VKS, ngày 16/3/2022; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận:

Vào lúc 13 giờ 35 phút, ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại nhà của bà Nguyễn Thị L thuộc T3, xã CM, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Khi Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào liêng được thua bằng tiền thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo bắt quả tang; thu giữ số tiền 8.750.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 cái chăn kích thước 1,6m x 2m.

Hành vi của các bị cáo Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;

Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào liêng được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương, nhưng vì ý thức coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hành, không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, vai trò của từng bị cáo trong vụ án có sự khác nhau.

Đối với bị cáo H là người khởi xướng và rủ rê các bị cáo S và U cùng tham gia đánh bạc, H cũng là người chuẩn bị công cụ, sử dụng nhà của bà L (mẹ của H) để làm địa điểm đánh bạc; số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc cũng nhiều hơn so với các bị cáo khác, thể hiện mức độ ăn thua cao hơn. Còn bị cáo S và U tham gia với vai trò thực hành. Vì vậy, cần áp dụng mức tương xứng với tính chất, mức độ do các bị cáo gây ra, mới có tác dụng trừng trị và giáo dục đối với các bị cáo.

Đối với Võ Thị Lệ Th không tham gia đánh bạc nên không có căn cứ để xử lý.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình;

Bị cáo S và bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, các bị cáo S và H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Hội đồng xét xử thiết nghĩ không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo, rèn luyện dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe và trừng trị đối với từng bị cáo. Xét thấy, các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo bị xử phạt cải tạo không giam giữ và không cần thiết phải xử phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo U, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo U được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét nhân thân bị cáo U là người đang có tiền án, do bị cáo chưa thực hiện nghĩa vụ về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm tại bản án số 56/2012/HSST, ngày 04/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, đến ngày 27/4/2022 bị cáo mới nộp án phí của bản án này, nên bị cáo chưa được xóa án tích. Vì vậy, lần phạm tôi này của bị cáo U thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tại phiên tòa đối với các bị cáo là cớ căn cứ, nên cần chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách Nhà Nước số tiền 8.750.000 đồng, là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc;

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 cái chăn là tài sản của bị cáo H sử dụng vào mục đích phạm tội, do không còn giá trị sử dụng.

Đối với căn nhà Hà Văn H sử dụng vào việc đánh bạc, là tài sản của bà Nguyễn Thị L, khi H sử dụng vào việc đánh bạc thì bà L không biết nên không có căn cứ để xử lý.

. Về án phí: Cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U phạm tội “Đánh bạc”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn H 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hà Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã Cư Mốt, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk để giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Minh S.

Xử phạt bị cáo bị cáo Lê Minh S 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 25/12/2021 đến ngày 03/01/2022, (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ: 03 ngày x 09 ngày = 27 ngày). Bị cáo Lê Minh S còn phải chấp hành hình phạt còn lại là 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Cư Mốt, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Trong thời gian cải tạo không giam giữ giao bị cáo Lê Minh S cho Ủy ban nhân dân xã Cư Mốt, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị U 09 (chín) tháng tù. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày (từ ngày 25/12/2021 đến ngày 03/01/2022). Hình phạt tù còn lại phải chấp hành là 08 tháng 21 ngày, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.

[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách Nhà Nước số tiền 8.750.000 đồng, là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc;

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 cái chăn là tài sản của bị cáo H sử dụng vào mục đích phạm tội, do không còn giá trị sử dụng.

Đối với căn nhà Hà Văn H sử dụng vào việc đánh bạc, là tài sản của bà Nguyễn Thị L, khi H sử dụng vào việc đánh bạc thì bà L không biết nên không có căn cứ để xử lý.

(Đặc điểm các vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án).

[3]. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Hà Văn H, Lê Minh S và Trần Thị U, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ