vanban.org

Bản án 31/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 05/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Đình N cho chính quyền địa phương xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Nam phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự - Xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC THỌ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HS-ST
Ngày: 05/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Thắng.

Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Chương và Ông Nguyễn Đức Thọ.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2022/TLST-HS ngày 13/6/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST-HS ngày 22/6/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình N; tên gọi khác: Không; ngày, tháng, năm sinh: 08/7/1990, tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình Th, sinh năm: 1961 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1961; Vợ: Trương Thị T, sinh năm: 1990; Con: có 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 28/3/2022 đến ngày nay tại xã T, huyện Đ, tinh Hà Tĩnh; có mặt tại phiên tòa, sức khỏe bình thường và tự bào chữa.

* Người đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại: Anh Phạm Viết C; sinh năm: 1989; nơi cư trú: Khối x, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Kỹ sư; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Văn H; sinh năm: 1973; nơi cư trú: Thôn Tr, xã Y, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt;

- Chị Trương Thị T; sinh năm: 1990; nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Đinh Mạnh C; sinh năm: 1985; nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Anh Nguyễn Xuân L; sinh năm: 1984; nơi cư trú: Thôn Q, xã Th, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Ông Trần Quang H; sinh năm: 1970; nơi cư trú: Thôn Tr, xã Y, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 31/01/2022, Nguyễn Đình N cùng gia đình tổ chức ăn uống tại nhà riêng ở thôn Q, xã Th, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, quá trình ăn uống Nguyễn Đình N có sử dụng rượu bia. Đến khảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Đình N (có giấy phép lái xe hạng A1 do Bộ Giao thông vận tải cấp ngày 12/9/2019) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, sơn màu xanh, biển kiểm soát 37G1-080.29 đi đến nhà anh Trần Quang H, trú tại thôn Tr, xã Y, huyện Đ để chơi. Đi cùng Nguyễn Đình N có anh Đinh Mạnh C, anh Nguyễn Xuân L, anh Nguyễn Đình B và chị Lê Thị H, đều trú tại thôn Q, xã T, huyện Đ. Khoảng 18 giờ cùng ngày, cả nhóm ra về. Lúc này anh Đinh Mạnh C điều khiển xe mô tô chở chị Lê Thị H, anh Nguyễn Xuân L điều khiển xe mô tô chở anh Nguyễn Đình B đi phía trước, còn Nguyễn Đình N điều khiển xe mô tô nói trên đi sau cùng. Khi đi đến ngã tư đường liên xã thuộc thôn Tr, xã Y, huyện Đ thì anh Đinh Mạnh C và anh Nguyễn Xuân L điều khiển xe mô tô rẽ phải về hướng xã T, huyện Đ để về nhà. Còn Nguyễn Đình N tiếp tục điều khiển xe mô tô đi trên đường liên xã Y

- T theo hướng xã Y - thị xã H. Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, khi cách ngã tư khoảng 100m, do thiếu quan sát, Nguyễn Đình N đã điều khiển xe mô tô đi lấn sang phần đường ngược chiều, thì va chạm với xe máy điện nhãn hiệu HTC Bike, biển kiểm soát 38MĐ2-011.70 do chị Nguyễn Thị Thu H (sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã Y, huyện Đ) điều khiển. Hậu quả, làm chị Nguyễn Thị Thu H bị thương, phải cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An và Bệnh viện Việt Đức - Hà Nội, đến ngày 01/02/2022 thì tử vong do chấn thương sọ não; Nguyễn Đình Nam bị thương , xe mô tô và xe máy điện bị hư hỏng.

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Thọ lập hồi 19 giờ 10 phút ngày 31/01/2022, xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là tuyến đường liên xã thuộc địa phận thôn T, xã Y, huyện Đ; mặt đường làm bằng bê tông, bằng phẳng, rộng 3,5m; lề đường phía Bắc rộng 1,9m, lề đường phía Nam rộng 0,7m; phía Đông là hướng đi thị xã H; phía Tây là hướng đi xã Y; phía Nam tiếp giáp với cánh đồng; phía Bắc tiếp giáp với nhà dân. Quá trình khám nghiệm hiện trường, lấy tâm cột cổng bên phải nhà ông Nguyễn Bá Th nằm bên phải lề đường theo hướng thị xã H - Y làm mốc; lấy mép đường bên phải hướng thị xã H - Y làm chuẩn. Hiện trường để lại các dấu vết sau:

Vết cày xước (đánh số 1): Do xe mô tô biển kiểm soát 37G1-080.29 để lại trên lề đường phía Bắc đường liên xã dài 0,65m, rộng 0,01m, sâu 0,005m, chiều hướng Tây - Đông. Điểm đầu vết cày xước cách mép đường làm chuẩn 0,57m. Điểm cuối vết cày xước cách mép đường làm chuẩn 0,55m và cách mốc 15m.

Vết cày xước (đánh số 2): Do xe mô tô biển kiểm soát 37G1-080.29 để lại trên mặt đường liên xã dài 1,35m, rộng 0,02m, sâu 0,004m, chiều hướng Tây - Đông. Điểm đầu vết cày xước cách mép đường làm chuẩn 0,28m. Điểm cuối vết cày xước nằm dưới giá đỡ phía sau bên phải xe mô tô biển kiểm soát 37G1-080.29. Điểm đầu vết cày xước cách điểm cuối vết cày xước (đánh số 1) 0,55m.

Vết cày xước (đánh số 3): Do xe mô tô biển kiểm soát 37G1-080.29 để lại trên lề đường phía Bắc đường liên xã dài 1,3m, rộng 0,01m, sâu 0,004m, chiều hướng Tây - Đông. Điểm đầu vết cày xước trùng với mép đường làm chuẩn và cách điểm đầu vết cày xước (đánh số 2) 0,05m. Điểm cuối vết cày xước nằm dưới gác để chân phía sau bên phải xe mô tô biển kiểm soát 37G1-080.29.

Vết cày xước (đánh số 4): Do xe máy điện biển kiểm soát 38MĐ2-011.70 để lại trên đường liên xã dài 2,9m, rộng 0,01m, sâu 0,005m, chiều hướng Tây - Đông. Điểm đầu vết cày xước các mép đường làm chuẩn 0,76m. Điểm cuối vết cày xước nằm dưới tâm trục bánh sau xe máy điện biển kiểm soát 38MĐ2-011.70.

Xe mô tô biển kiểm soát 37G1-080.29 (đánh số 5): Nằm ngã nghiêng bên phải trên mặt đường liên xã, vuông góc với mép đường làm chuẩn, đầu xe quay về hướng Bắc, đuôi xe quay về hướng Nam. Trục bánh sau xe mô tô cách mép đường làm chuẩn 0,65m. Trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 0,55m.

Vết cày xước (đánh số 6): Do xe máy điện biển kiểm soát 38MĐ2-011.70 để lại trên lề đường phía Bắc đường liên xã dài 1,3m, rộng 0,01m, sâu 0,004m, chiều hướng Tây - Đông. Điểm đầu vết cày xước cách mép đường làm chuẩn 0,18m. Điểm cuối vết cày xước nằm dưới chân chống xe máy điện biển kiểm soát 38MĐ2-011.70.

Xe máy điện biển kiểm soát 38MĐ2-011.70 (đánh số 7): Nằm ngã nghiêng bên phải trên mặt đường liên xã, vuông góc với mép đường làm chuẩn, đầu xe quay về hướng Bắc, đuôi xe quay về hướng Nam. Trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn 0,75m. Trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 0,6m.

Vết máu (đánh số 8): Để lại trên mặt đường liên xã, không rõ hình, dài 0,76m, rộng 0,3m. Tâm vết máu cách mép đường làm chuẩn 0,25m và cách trục bánh sau xe máy điện biển kiểm soát 38MĐ2-011.70 là 0,7m.

- Tại biên bản khám nghiệm tử thi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Thọ lập hồi 11 giờ 30 phút ngày 01/02/2022, xác định: Tử thi Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã Y, huyện Đ. Tử thi mặc áo khoác dài tay màu đỏ, phía trong mặc áo len ngắn tay màu đỏ, phía trong mặc áo lót màu hồng; phía dưới đeo bỉm màu xanh. Chiều dài tử thi 1,56m, thể trạng trung bình. Các dấu vết trên tử thi: Vùng thái dương phải, cách trên đỉnh vành tai phải 5cm, cách đường chân tóc gáy 6cm có đám sưng nề, bầm tụ máu trên diện (8x6)cm. Hốc mắt trái bầm tụ máu. Dưới lông mày trái có vết thương, kích thước (3x0,5)cm, sâu đến xương hộp sọ. Mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay trái có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước (4x5)cm. Mặt trước gối phải có đám sưng nề, bầm tụ máu trên diện (5x4)cm. Mặt trước gối trái có đám xây xát da, sưng nề, bầm tụ máu rải rác trên diện (13x10)cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 59/GĐPY ngày 02/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: Nguyên nhân chết của chị Nguyễn Thị Thu H do chấn thương so não.

- Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 37G1-080.29 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Thọ lập hồi 14 giờ ngày 01/02/2022, xác định: Mặt nạ, chắn phía trước, bộ ốp trước trái phải vỡ hoàn toàn, rời ra khỏi vị trí ban đầu. Hệ thống lái, bánh trước bị biến dạng, đẩy lùi từ trước ra sau, từ phải sang trái. Điểm ngoài cùng tay phanh bên phải bị mài sáng kim loại, kích thước (1x1)cm. Thành ngoài giá đỡ phía sau bên phải bị mài mòn, chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, kích thước (3x0,5)cm. Điểm ngoài cùng gác để chân phía sau bên phải bị mài mòn phần kim loại, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (1x1,5)cm. Hệ thống điều khiển, hãm trước, đèn chiếu sáng không kiểm tra được do bị hư hỏng. Phanh sau hoạt động có hiệu lực.

Tại bản kết luận định giá số 14/KLĐG-HĐĐGTS ngày 25/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Đức Thọ kết luận: Giá trị có thể sửa chữa, khắc phục các bộ phận bị hư hỏng là 800.000 đồng.

- Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe máy điện biển kiểm soát 38MĐ2-011.70 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Thọ lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 01/02/2022, xác định: Đèn chiếu sáng phía trước bị vỡ, kích thước (3x4)cm. Hệ thống lái, giảm xóc trước, bánh trước bị gãy vỡ hoàn toàn. Giỏ phía trước bị cong vênh biến dạng. Điểm ngoài cùng tay phanh bên phải bị mài sáng kim loại, kích thước (1x1,5)cm. Vành bánh trước bị vỡ hoàn toàn. Hệ thống điều khiển, hãm, đèn còi không kiểm tra được do bị hư hỏng.

Tại bản kết luận định giá số 14/KLĐG-HĐĐGTS ngày 25/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Đức Thọ kết luận: Giá trị có thể sửa chữa, khắc phục các bộ phận bị hư hỏng là 5.500.000 đồng.

- Tại Bản tóm tắt bệnh án số hồ sơ 349504/660711 ngày 18/02/2022 của Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An đối với Nguyễn Đình Nam, xác định: Ethanol: 17.2mmol/L.

Ngày 27/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đức Thọ có công văn số 107/CV-CSĐT gửi Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An yêu cầu giải thích về chỉ số Ethanol phản ánh trong Tóm tắt bệnh án của Nguyễn Đình N.

Ngày 24/5/2022, Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An có văn bản số 1120/BV-KHTH giải thích về kết quả xét nghiệm máu của Nguyễn Đình N, cụ thể: Xét nghiệm định lượng Ethanol là xét nghiệm định lượng cồn trong máu, được làm vào hồi 21 giờ 40 phút ngày 31/01/2022 tại Khoa cấp cứu Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An. Chỉ số Ethanol 17.2 mmol/L tương đương 0.7924 miligam/mililit tương đương 79.24 miligam/100 mililit. Vì vậy, chỉ số Ethanol 17.2 mmol/L là lớn hơn so với chỉ số 50miligam/100 mililit máu (nồng độ cồn cho phép).

Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKS-ĐT ngày 07 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đình N đã tự nguyện bồi thường xong phần dân sự cho đại diện gia đình người bị hại số tiền 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng), gồm: Chi phí mai táng và tổn thất tinh thần; tự nguyện bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H số tiền 10.000.000 đồng giá trị chiếc xe máy điện. Hiện nay, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người liên quan cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, sơn màu xanh, biển kiểm soát 37G1-080.29, số khung 5808EY213873, số máy JF58E0213961; 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu HTC Bike, sơn màu đỏ, biển kiểm soát 38MĐ2- 011.70, số khung RPFYHDGUMFHT19547, số máy DS1248V15 1137543C27

Quá trình điều tra xác định được, chiếc xe mô tô biển kiểm soát biển kiểm soát 37G1-080.29 là của chị Trương Thị T, sinh năm 1990, trú tại thôn Q, xã T, huyện Đ (vợ của Nguyễn Đình N); còn chiếc xe máy điện biển kiểm soát 38MĐ2-011.70 là của ông Trần Văn H (cậu của bị hại Nguyễn Thị Thu H). Sau khi khám nghiệm phương tiện, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu.

Về án phí: Đề nghị xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai báo thành khẩn, tại phiên tòa bị cáo và anh Phạm Viết C (chồng của bị hại) không có ý kiến gì tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Được nói lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn, hối hận mong Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, Kiểm sát viên đã ban hành, thực hiện các quyết định, hành vi tố tụng đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, có cơ sở xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không làm cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vụ án.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, tang vật thu hồi và các tài liệu, chứng cứ có tài hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 31/01/2022, tại đường liên xã thuộc địa phận thôn T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Đình N (Có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, sơn màu xanh, biển kiểm soát 37G1-080.29 đi theo hướng từ xã Y, huyện Đ đến thị xã H. Do điều khiển xe mô tô trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định và đi không đúng phần đường quy định (lấn sang phần đường ngược chiều), nên đâm vào xe máy điện nhãn hiệu HTC Bike, sơn màu đỏ, biển kiểm soát 38MĐ2-011.70 do chị Nguyễn Thị Thu H điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả làm chị Nguyễn Thị Thu H tử vong. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đình N đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Việc xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật như Viện kiểm sát truy tố là đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo: Bị cáo Nguyễn Đình N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự nguyện bồi thường thiệt hại; Đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt: Đây là vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây ra hậu quả làm chết một người là tổn thất không có gì có thể bù đắp được cho gia đình bị hại. Đồng thời, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nói chung và an toàn giao thông đường bộ nói riêng. Vì vậy, cần phải lên một mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo Điều 65 Bộ luật Hình sự là đủ cơ sở cho bị cáo cải tạo tiến bộ.

Tại phiên tòa anh Phạm Viết C – là chồng của người bị hại trình bày sau khi gây tai nạn chết người, bị cáo Nguyễn Đình N đã tích cực bồi thường về phần trách nhiệm dân sự cho gia đình anh, bên cạnh đó bị cáo thường xuyên đi lại thăm non, động viên chia sẽ mất mát với gia đình anh. Anh Phạm Viết C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong phần dân sự cho đại diện gia đình người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên đại diện gia đình người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định được, chiếc xe mô tô biển kiểm soát biển kiểm soát 37G1-080.29 là của chị Trương Thị T vợ của Nguyễn Đình N; còn chiếc xe máy điện biển kiểm soát 38MĐ2-011.70 là của ông Trần Văn H cậu của bị hại Nguyễn Thị Thu H. Sau khi khám nghiệm phương tiện, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu là phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, đại diện cho gia đình người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đình N cho chính quyền địa phương xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.

3. Về xử lý vật chứng: Miễn xét.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Đình N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự Bị cáo, Người đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/7/2022). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ