vanban.org

Bản án 31/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 24/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lục Lý P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Lục Lý P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 18/01/2022. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Lục Lý P trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lục Lý P, thành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Lý P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lục Lý P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HS-ST
Ngày 24/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Bích Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Tưởng Thị Thu.

2. Ông: Hoàng Văn Tấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Ma Thị Kim, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2022/TLST - HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST - HS ngày 10/5/2022, đối với bị cáo:

LỤC LÝ P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 25/4/1985 tại huyện C1, tỉnh Bắc Kạn;

Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện C1, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn S và bà Nông Thị V; Vợ, con chưa có; đảng, đoàn thể: Không.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 05/01/2021 của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C1, tỉnh Bắc Kạn xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bằng hình thức: Cảnh cáo.

Bản án số 23/2014/HS-ST ngày 27/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện C1, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/02/2015.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 18/01/2022 Lục Lý P đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến thị trấn B1, huyện C1, tỉnh Bắc Kạn mục đích tìm mua chất ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, P xuống xe đi bộ đến gần cổng Trung tâm điều trị Methadone của huyện C1 thì gặp người đàn ông không quen biết hỏi và mua được 01 gói nhỏ chất ma túy, có đặc điểm bên ngoài gói bằng lớp nilon màu trắng, tiếp theo là lớp giấy bạc màu trắng, trong cùng chứa chất bột vón cục màu trắng là Heroine và 01 viên chất bột vón cục màu hồng là ma túy tổng hợp (loại Methamphetamine), với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Mua được chất ma túy P cất vào túi áo bên phải đang mặc và đi nhờ xe mô tô của người qua đường đến xã B2, huyện C, tỉnh Tuyên Quang chơi. Khi đến địa phận xã B2, huyện C, P xuống xe đi bộ vào bụi cây ven đường lấy gói Heroine vừa mua được san ra sử dụng một phần bằng cách đốt hít vào cơ thể, số còn lại P gói lại như cũ và cất vào túi áo. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi P đi đến khu vực thôn B3, xã B2 thì gặp tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang làm nhiệm vụ, nghi P có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên Tổ công tác đã yêu cầu P về UBND xã B2 để làm việc. Trong quá làm việc P đã tự giác giao nộp 01 gói chứa chất ma túy có đặc điểm nêu trên. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Cùng ngày Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Lục Lý P, kết quả: (+) Dương tính có chất ma túy trong cơ thể.

Kết luận giám định số 176/GĐKTHS ngày 22/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Chất bột vón cục màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,191g (Không phẩy một chín một gam); Chất bột vón cục màu hồng gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,025g (không phẩy không hai năm gam)

Cáo trạng số 31/CT-VKSCH ngày 29/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang truy tố Lục Lý P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lục Lý P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Lục Lý P từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/01/2022.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân không có vụ lợi, không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy thu giữ trong 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lục Lý P, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Lục Lý P, giám định ngày 19/01/2022.

Đối với người bán ma túy cho Lục Lý P, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ đề nghị xử lý trong vụ án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lục Lý P, Công an huyện C đã xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề nghị xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lục Lý P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/01/2022, tại thôn B3, xã B2, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Lục Lý P đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,191g Heroine và 0,025g Methamphetamine. Tổng khối lượng của hai chất ma túy là 0,216g (Không phẩy hai một sáu gam), mục đích để sử dụng. Đối chiếu tổng khối lượng của hai chất ma túy đủ khối lượng quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Ma túy là chất gây nghiện, có tác hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội, sa sút về kinh tế, nhưng bị cáo đã đi ngược lại quy định Nhà nước, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm pháp luật, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa P.

Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa P và gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2021 bị UBND xã Q, huyện C1, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (bằng hình thức: Cảnh cáo); năm 2014 bị TAND huyện C1, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (bị cáo đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ của bị cáo là ông Lục Văn S được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang”, theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do đó cần áp dụng mức án tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Lục Lý P trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lục Lý P, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Lục Lý P, giám định ngày 19/01/2022.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Lục Lý P, quá trình điều tra do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lục Lý P, Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy sử dụng cho bản thân không có vụ lợi, bị cáo không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Lục Lý P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Lục Lý P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 18/01/2022.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Lục Lý P trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lục Lý P, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Lục Lý P, giám định ngày 19/01/2022.

Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 13 tháng 5 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Về án phí: Bị cáo Lục Lý P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/5/2022.

Cỡ chữ