- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng Thanh G vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Thanh G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2022/HS-ST Ngày: 22-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thám.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Út.
Ông Huỳnh Tấn Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Út – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Hoàng Thanh G (tên gọi khác: Không), sinh năm 1992, tại Long An; Nơi cư trú: Ấp 2A, xã TÂ, huyện CĐ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Hoàng Q, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1962; Anh chị em ruột: 05 người; Có chồng là Mã Trung Đ, sinh năm 1971 (đã ly hôn vào tháng 4 năm 2021) và có 01 người con sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Trần Văn K, sinh năm 1962 (đã chết);
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Trần Kim H, sinh năm 1962 (vợ, vắng mặt).
2. Anh Trần Hồng L, sinh năm 1991 (con ruột, có mặt).
3. Chị Trần Kim G2, sinh năm 1993 (Con ruột, vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà H, chị G2: Anh Trần Hồng L (theo văn bản ủy quyền ngày 21/02/2022 và ngày 08/4/2022)
Cùng địa chỉ: Ấp 6, xã MTN, huyện CL, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 50 phút, ngày 15/01/2022, Lê Hoàng Thanh G có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển số 59Y1-908.15 đi từ nhà ở ấp 2A, xã TÂ đến Công ty Jiahin tại khu Công nghiệp Cầu Tràm thuộc ấp Cầu Tràm, xã Long Trạch, huyện CĐ để làm việc. G điều khiển xe lưu thông trên Tỉnh lộ 826, theo hướng từ ngã 3 Tân Lân về hướng Cầu Rạch Đào, đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày khi G điều khiển xe đến đoạn đường thuộc ấp Vạn Phước, xã Mỹ Lệ, huyện CĐ, tỉnh Long An, do không chú ý quan sát phía trước nên không phát hiện ra ông Trần Văn K đang đi bộ băng qua đường. Lúc này, G điều khiển xe với tốc độ khoảng 40km/h, đến khi cách Ông K là 02m thì G mới phát hiện Ông K đang đi bộ băng qua đường phía trước. Do khoảng cách quá gần, G không kịp xử lý nên để xe mô tô biển số 59Y1-908.15 thì va chạm vào Ông K gây tai nạn. Hậu quả làm Ông K bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy đến ngày 16/01/2022 thì Ông K tử vong. Sau tai nạn, G chỉ bị thương nhẹ nên dẫn xe vào lề đường.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng được trải nhựa, bề mặt bằng phẳng, có chiều rộng là 09m, có vạch kẻ đứt quãng chia mặt đường thành hai chiều riêng biệt, mỗi bên chiều rộng là 4,5m, không có biển báo, không có vạch kẻ đường dành riêng cho người đi bộ.
Khám nghiệm hiện trường theo hướng từ ngã ba Tân Lân đi cầu Rạch Đào lấy mép lề phải làm chuẩn, các số đo và mép lề phải được đo vuông góc, lấy trụ điện số 106 bên lề phải làm mốc cố định. Tính từ trụ điện 106 theo hướng đi cầu Rạch Đào 01 đoạn dài là 29,7m là đầu vết cày, vết cày ký hiệu là (1). (1) bị đứt quãng có chiều dài là 03m, có hướng từ ngã ba Tân Lân đến cầu Rạch Đào, đầu và cuối vết cày (1) đo lần lượt và mép đường chuẩn là 4,6m và 5,1m.
Kết luận khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô 59Y1-908.15 có đầu càng thắng phía trước, bên phải bị gãy; đầu gù tay lái phía bên trái bị trầy xước; ốp nhựa phía trên bên trái của cánh yếm xe bên trái bị bể vỡ; đầu gác chân phía trước, bên trái bị mài mòn.
Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tài liệu thu thập có trong hồ sơ, xác định khu vực va chạm nằm ở khu vực giữa đường vị trí của đầu vết cày để lại sau tai nạn cách mép đường chuẩn là 4,6m.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 49/2022/KLGĐ ngày 19/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Bầm tụ máu dưới da đầu. Võ xương hộp sọ từ vùng đỉnh phải sang vùng đỉnh trái. Xuất huyết dưới nhện; dập não, xuất huyết thùy trán.
2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng.
Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đồng.
Tại Cáo trạng số: 25/CT-VKSCĐ ngày 27/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ đã truy tố Lê Hoàng Thanh G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Thanh G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Thanh G từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
Bị cáo Lê Hoàng Thanh G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã nêu và đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là không oan, đúng người, đúng tội. Bị cáo không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt, xin chia buồn cùng gia đình bị hại
Anh Trần Hồng L trình bày tranh luận: Khi điều tra bị cáo không thành khẩn khai báo vì bị cáo chạy với tốc độ cao mới gây tai nạn nên bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo; về mức hình phạt không tranh luận; về trách nhiệm dân sự anh và gia đình đã nhận số tiền bồi thường 120.000.000đồng nên không yêu cầu gì thêm; đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ tranh luận: Không có căn cứ xác định bị cáo chạy xe vượt quá tốc độ cho phép và Viện kiểm sát truy tố hành vi của bị cáo là thiếu chú ý quan sát gây tai nạn giao thông, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo và bị cáo cũng đã tích cực bồi thường thiệt hại thể hiện sự ăn năn của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có căn cứ xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của đại diện gia đình bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được như bản kết luận giám định pháp y về tử thi, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 15/01/2022, bị cáo Lê Hoàng Thanh G có giấy phép lái xe hạng A 1 theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 59Y1-908.15 lưu thông trên tỉnh lộ 826 hướng từ ngã 3 Tân Lân, xã Tân Lân, huyện CĐ đến cầu Rạch Đào, xã Mỹ Lệ, huyện CĐ. Khi đến đoạn đường thuộc khu vực ấp Vạn Phước, xã Mỹ Lệ, G điều khiển xe không chú ý quan sát phía trước nên đã va chạm với ông Trần Văn K đang đi bộ băng qua đường gây tai nạn giao thông. Hành vi không chú ý quan sát của bị cáo đã vi phạm các quy tắc khi tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 23 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm một người chết là Ông K. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ đã truy tố bị cáo Lê Hoàng Thanh G ra trước Tòa án nhân dân huyện CĐ để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Căn cứ quyết định hình phạt:
Lỗi của bị cáo: Bị cáo biết rõ xe cơ giới lưu thông trên đường là nguồn nguy hiểm cao độ, người điều khiển phải tuyệt đối chấp hành các quy tắc khi tham gia giao thông đường bộ, nhưng bị cáo khi điều khiển phương tiện giao thông đã không chú ý quan sát gây tai nạn giao thông nên lỗi của bị cáo là vô ý do cẩu thả.
Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Các tình tiết giảm nhẹ: Người đại diện hợp pháp của bị hại cho rằng bị cáo không thành khẩn khai báo với hành vi chạy quá tốc độ nhưng không có căn cứ xác định khi tham gia giao thông bị cáo chạy vượt quá tốc độ cho phép. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi đã gây ra; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đồng, được người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị không khởi tố vụ án; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, mới phạm tội lần đầu, gia đình có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, một mình bị cáo nuôi con nhỏ bị bệnh tự kỷ thiểu năng chậm phát triển. Đồng thời, trong vụ án này cũng có lỗi một phần của bị hại khi đi qua đường chưa đảm bảo an toàn khi qua đường theo khoản 3 Điều 32 của Luật giao thông đường bộ. Do vậy, áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về áp dụng hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn gây hậu quả làm một người chết. Hiện nay tình hình tai nạn giao thông tại địa phương diễn biến hết sức phức tạp và có xu hướng tăng, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân khi tham gia giao thông nguyên nhân chủ yếu là do người điều khiển phương tiện giao thông không chấp hành luật khi tham gia giao thông. Hành vi của bị cáo gây ra hậu quả nghiêm trọng, cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 51 bộ luật Hình sự. Hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, một mình bị cáo phải con nhỏ bị bệnh tự kỷ thiểu năng chậm phát triển và thường xuyên phải đi tái khám và con bị cáo cũng cần phải có sự chăm sóc đặc biệt từ người mẹ so với những đứa trẻ khác nếu bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình bị cáo, sự phát triển bình thường của con bị cáo và sẽ làm gánh nặng thêm cho xã hội. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, từ trước đến nay không vi phạm quy định gì tại địa phương nên bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà giao bị cáo về chính quyền địa phương theo dõi, giám sát giáo dục cũng có thể cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt. Nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo chỉ có công việc duy nhất là công nhân và gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đồng, anh Trần Hồng L là người đại diện cho gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Lê Hoàng Thanh G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Thanh G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Thanh G 01 (một) năm tù . Được cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án (22/7/2022).
Giao bị cáo Lê Hoàng Thanh G cho Ủy ban nhân dân xã TÂ, huyện CĐ, tỉnh Long An để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Lê Hoàng Thanh G thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Hoàng Thanh G nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An (01b); - Sở Tư pháp tỉnh Long An (01b); - VKSND huyện (01b); - VKSND tỉnh (01b); - CQĐT Công an cấp huyện (01b); - Chi cục THADS huyện (01b); - Bị cáo (01b); - Các đương sự (01b) - UBND xã nơi bị cáo cư trú (01b); - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thám |