- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị A khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A được ly hôn với anh B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2022/HNGĐ-ST Ngày: 17/5/2022 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 96/2022/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị A, sinh năm 1991
Địa chỉ: Khóm A, xã Y, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt)
- Bị đơn: Anh B, sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị A trình bày: Chị A và anh B chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/6/2012, tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu. Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung: Cháu C, sinh ngày 25/3/2013. Trong thời gian chung sống vợ chồng, giữa chị và gia đình chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là mâu thuẫn mẹ chồng và chị A, nhưng anh B không quan tâm đời sống vợ chồng, cũng không giải quyết mâu thuẫn giữa chị và mẹ chồng, nên mâu thuẫn vẫn cứ kéo dài. chị A và anh B đã ly thân từ tháng 3 năm 2021 cho đến nay. Do đó, chị A nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh B không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B. Về con chung: Cháu C Huy, sinh ngày 25/3/2013 từ khi sinh ra cho đến nay cháu sống với chị và anh B ở nhà ông bà nội nên khi ly hôn chị đồng ý giao cháu C cho anh B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh B dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của anh B.
Tại phiên toà chị A vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử những nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt nên áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị A được ly hôn với anh B. Về con chung: Giao C, sinh ngày 25/3/2013 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục. chị A không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: chị A và anh B tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/6/2012, tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay chị A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh B và giải quyết về con chung, đây thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn”, anh B hiện đang cư trú tại xã Tân Phong, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã R theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Bị đơn anh B đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân:
Sau khi kết hôn chị A và anh B sống với nhau hòa thuận một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là mâu thuẫn mẹ chồng và chị A, anh B cũng không quan tâm đời sống vợ chồng, không tìm cách giải quyết mâu thuẫn. chị A và anh B đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2021 cho đến nay. Do đó, chị A nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh B không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án đã hòa giải để chị A và anh B đoàn tụ nhưng chị A cương quyết ly hôn vì nhận thấy không còn tình cảm, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc. Còn anh B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể ghi nhận ý kiến của anh B. Xét thấy, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu thương của cả hai vợ chồng, nhưng chị A cương quyết xin ly hôn, giữa chị A và anh B cũng sống ly thân thời gian dài, không còn quan tâm đến đời sống của nhau, nên có căn cứ xác định cuộc sống hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con chung: chị A xác định chị và anh B có 01 con chung là cháu C, sinh ngày 25/3/2013, khi ly hôn chị A đồng ý tiếp tục giao cháu C cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, do kinh tế khó khăn nên chị yêu cầu không phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ biên bản xác minh Trưởng ấp B, xã T ngày 13/4/2022 xác định: Cháu C từ trước đến nay sống với cha và mẹ cùng với ông bà nội; khi ly thân thì chị A về Cà Mau sống, cháu C vẫn tiếp tục sống với cha, cháu được đi học và phát triễn bình thường. Do đó, để tránh làm sáo trộn đời sống và sự phát triễn tâm sinh lý của cháu. Hội đồng xét xử có căn cứ giao cháu C cho anh B được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. chị A không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị A xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không có căn cứ xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị A phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A được ly hôn với anh B.
2. Về con chung:
- Giao con chung là cháu C, sinh ngày 25/3/2013 cho anh B được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Cháu C hiện đang sống cùng anh B nên được giữ nguyên.
- Chị A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
- Chị A không phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm buộc chị A có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị A đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Biên lai thu số: 0003886, ngày 09/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND cùng cấp; - CCTHADS cùng cấp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |