vanban.org

Bản án 31/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Ngọc Diễm P.

Về hôn nhân: Chị Phan Ngọc Diễm P được ly hôn anh Nguyễn Quốc T. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn P Hòa, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2012 và cháu Nguyễn Quốc Bảo, sinh ngày 06-02-2017 cho chị Phan Ngọc Diễm P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "P- T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Ngọc Diễm P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16-6-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bắc

2. Bà Tô Thị Lành

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tham gia phiên tòa: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại: Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2022/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2022, về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Ngọc Diễm P, sinh năm 1989; địa chỉ: Hẻm 45 L, Tổ 4, phường HP, thành phố P, tỉnh G. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1988; địa chỉ: Hẻm 45 L, Tổ 4, phường HP, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 29–12–2021, các lời khai có tại hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Phan Ngọc Diễm P trình bày:

Chị Phan Ngọc Diễm P và anh Nguyễn Quốc T tự nguyện tìm hiểu năm 2012 chị P và anh T có đăng ký kết hôn tại UBND phường PĐ, thành phố P, tỉnh G và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 26-5-2012.

Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn là do anh T thường xuyên chơi cá độ, không lo làm ăn dẫn đến kinh tế gia đình luôn khó khăn. Ngoài ra anh còn đánh đập, chửi bới chị. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Dù nhiều lần chị đã tha thứ, cố gắng hòa hợp nhưng anh T vẫn chứng nào tật nấy. Nay chị Phan Ngọc Diễm P yêu cầu được ly hôn đối với anh Nguyễn Quốc T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn P H, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2012 và cháu Nguyễn Quốc B, sinh ngày 06 tháng 12 năm 2017. Nguyện vọng sau khi ly hôn của chị P là được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về T sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với anh Nguyễn Quốc T. Tuy nhiên, anh T không đến Toà án để tham gia tố tụng, không đến tham gia phiên tòa. Do vậy, anh Nguyễn Quốc T không có lời khai tại hồ sơ và không có lời khai tại phiên toà.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:

* Về tuân theo pháp luật tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp và phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa.

* Về nội dung vụ án:

Đề nghị xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quyền khởi kiện và Thẩm quyền giải quyết: Chị Phan Ngọc Diễm P làm đơn yêu cầu Tòa án nhân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Quốc T. Về nội dung và hình thức đơn khởi kiện của chị P đúng quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án thụ lý. Bị đơn là anh Nguyễn Quốc T cư trú tại thành phố Pleiku nên Tòa án nhân dân thành phố Pleiku có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là anh Nguyễn Quốc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án để anh T đến tham gia phiên tòa lần hai nhưng anh T vắng mặt, không có văn bản gửi cho Tòa án biết lý do vắng mặt của mình nên theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Quốc T.

Về hôn nhân: Chị Phan Ngọc Diễm P và anh Nguyễn Quốc T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường PĐ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai vào ngày 26-12-2012 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình chung sống, chị P và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay. Mặc dù, đã được hai bên gia đình nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưng anh chị vẫn tiếp tục sống ly thân và không quan tâm gì đến nhau.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng để anh T tham gia tố tụng, trình bày ý kiến của mình về việc chị P xin ly hôn nhưng anh T đều vắng mặt chứng tỏ anh không quan tâm đến việc có cần tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân của vợ chồng.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận tình trạng hôn nhân giữa chị Phan Ngọc Diễm P và anh Nguyễn Quốc T đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng rạn nứt mà không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị Phan Ngọc Diễm P về việc ly hôn anh Nguyễn Quốc T là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về con và cấp dưỡng nuôi con: Chị P và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn P Hòa, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2012 và cháu Nguyễn Quốc Bảo, sinh ngày 06-02-2017

Tại biên bản lấy lời khai của con chung ngày 28-02-2022, cháu Nguyễn P Hòa có nguyện vọng được ở với chị P, bản thân chị P có nguyện vọng được nuôi con. Mặt khác, trong quá trình tiến hành tố tụng anh T không đến Tòa để trình bày ý kiến của mình và không có ý kiến gì việc nuôi con. Xét yêu cầu được nuôi con chung của chị P là chính đáng, đúng với nguyện vọng của con, phù hợp theo quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về T sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Phan Ngọc Diễm P không yêu cầu Tòa án giải quyết các quan hệ này, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Yêu cầu xin ly hôn của Chị Phan Ngọc Diễm P được chấp nhận nên chị P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Ngọc Diễm P.

1. Về hôn nhân: Chị Phan Ngọc Diễm P được ly hôn anh Nguyễn Quốc T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn P Hòa, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2012 và cháu Nguyễn Quốc Bảo, sinh ngày 06-02-2017 cho chị Phan Ngọc Diễm P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có T sản để tự nuôi mình.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Phan Ngọc Diễm P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001238 ngày 13-01-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; chị Phan Ngọc Diễm P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn chị Phan Ngọc Diễm P được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn anh Nguyễn Quốc T vắng mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ