- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Đình K xin ly hôn chị Mai Thị C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhA: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn xử cho anh Nguyễn Đình K được ly hôn chị Mai Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhA và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhA và gia đình
| TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29- 4-2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và nợ. |
NHA DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHA DA HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhA dA: Ông Lê Hữu Thủy
Ông Hoàng Văn Hiệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhA dA huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 296/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2021 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và nợ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2022/QĐXX-ST ngày 05 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình K - Sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lê Đình C - Luật sư công tác Công ty luật Trí Tài chi nhánh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn P, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
2- Bị đơn: Chị Mai Thị C – Sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn Lọc Trạch 2, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
3- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị D – Sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. - Người đại diện theo uỷ
quyền của chị Nguyễn Thị D: Chị Nguyễn Thị A - Sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn Quần Nham 1, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 18 tháng 03 năm 2022)
- Ông Nguyễn Đình H – Sinh năm 1960.
Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa, có mặt: Anh K, chị C, chị A, ông H và ông C.
NỘI D VỤ ÁN:
1. Theo Đơn khởi kiện ngày 20 tháng 10 năm 2021, các văn bản tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Đình K trình bày và đề nghị: Anh và chị Mai Thị C kết hôn ngày 16/10/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 10 năm, đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị C ngoại tình với người đàn ông khác dẫn đến có thai phải đi phá thai. Năm 2015, anh có tát chị C một cái, ngoài ra không dùng vũ lực hay bạo hành vợ. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2021 cho đến nay. Cuộc sống của ai người đó tự lo, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Mai Thị C.
Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung là cháu Nguyễn Đình Mai T sinh ngày 17/4/2010 và cháu Nguyễn Đình N sinh ngày 14/01/2016. Hai cháu đang ở với anh và ông bà nội. Anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, các cháu khỏe mạnh, phát triển tốt về sức khỏe và tinh thần, các cháu được đi học đầy đủ, không bị đánh đập bạo hành. Anh làm nghề xây dựng, thu nhập bình quA 12.000.000đ/ tháng. Anh và các con đang ở nhà của bố mẹ đẻ. Trong lúc anh đi làm, có ông bà nội chăm sóc và đưa đón các cháu đi học. Anh hoàn toàn có đủ khả năng về kinh tế để nuôi cả 2 con.
Trong Đơn khởi kiện ngày 20 tháng 10 năm 2021, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản và nợ. Sau khi chị C có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, ông H và chị D có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ, anh K trình bày như sau:
Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung là thửa đất 1254 tờ bản đồ số 14 Bản đồ địa chính xã Đ diện tích 125m2 tại Thôn Q, xã Đ, huyện T được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT361540, số vào sổ cấp giấy CH 003900- 8138/QĐ- UBND ngày 16/10/2019 đứng tên Nguyễn Đình K và Mai Thị C trị giá 1.300.000.000đ. Ngoài ra không còn tài sản gì khác. Anh có nguyện vọng sử dụng thửa đất và giao tiền cho chị C, mức tiền giao cho chị C bao nhiêu đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Về nợ: Tháng 8/2019, vợ chồng anh nhờ ông Nguyễn Đình H (Bố đẻ) đặt cọc 40.000.000đ mua thửa đất của ông V giá 500.000.000đ. Ông H yêu cầu vợ chồng anh trả số nợ 40.000.000đ, anh đồng ý, trong đó anh trả 20.000.000đ, chị C trả 20.000.000đ.
Ngày 31/8/2019, em gái anh là Nguyễn Thị D cho anh vay 5,5 xẻn (550.000 baht) tiền Thái Lan tương đương với 390.000.000đ tiền Việt Nam để mua đất, không lập thành giấy tờ, vì anh em ruột nên tin tưởng nhau. Anh trực tiếp nhận tiền vay của chị D, tại phòng vợ chồng anh trọ ở Thái Lan, có mặt cả chị C. Vợ chồng anh đã trả được 130.000 baht tương đương 93.000.000đ. Số tiền còn nợ chị D là 297.000.000đ (Hai trăm chín mươi bảy triệu đồng). Anh đồng ý với yêu cầu đòi nợ của chị D, vợ chồng anh phải trả cho chị D 420.000 baht (tiền Thái Lan), ly hôn anh và chị C mỗi người trả một nửa.
2. Tại Bản tự khai ngày 01 tháng 11 năm 2021, Đơn đề nghị giải quyết tài sản chung của vợ chồng ngày 03/11/2021, các văn bản tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là chị Mai Thị C trình bày: Chị và anh Nguyễn Đình K được UBND xã Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/10/2009. Trong qúa trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh K có tính gia trưởng, vợ chồng hay cãi nhau, nhiều lần anh K đi cả đêm đến sáng mới về, có lần dùng tay tát chị dẫn đến tình cảm vợ chồng dạn nứt. Chị không còn tình cảm với anh K. Tháng 10/2019, anh K về Việt Nam, còn mình chị ở Thái Lan làm việc. Thời điểm đó chị có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác và có thai nhưng chị đã phá thai. Đến tháng 3/2020 chị về Việt Nam và chấm dứt chuyện tình cảm với người đàn ông kia. Vợ chồng sống ly thA từ tháng 4/2021 cho đến nay. Cuộc sống của ai người đó tự lo, không còn quan tâm đến nhau nữa, mục đích hôn nhA không đạt được. Anh K xin ly hôn, chị đồng ý ly hôn. Tại phiên toà chị C khai bổ sung thêm nguyên nhA mâu thuẫn còn do anh K chơi bài bạc.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Đình Mai T, sinh ngày 17/4/2010 và cháu Nguyễn Đình N, sinh ngày 14/01/2016. Hiện tại cả 2 cháu đang ở cùng với anh K và ông bà nội. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một cháu, cháu nào cũng được, cháu còn lại giao cho anh K nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Do dịch bệnh Covid 19 nên chị đang làm lông mi tại nhà và một số công việc khác thu nhập hàng tháng khoảng 5.000.000đ đến 6.000.000đ/tháng. Hiện nay, chị đã đi làm ở Công ty may tại Đồng Tiến, do mới đi làm nên chưa nhận lương, mức lương khoảng 6.000.000đ/tháng. Chị ở nhà bố mẹ đẻ tại thôn Lọc Trạch, xã Đ, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bố mẹ chị tạo điều kiện về nơi ở nuôi con sau ly hôn. Chị đi làm gần nhà, có thời gian chăm sóc và đưa đón con đi học. Chị hoàn toàn có đủ điều kiện về sức khỏe và kinh tế để nuôi con. Ngoài ra, chị còn có bố mẹ đẻ giúp đỡ chăm sóc cháu. Trong thời gian các cháu ở với anh K chị vẫn đến thăm và mua đồ cho các con. Chị cũng muốn đón con về nuôi nhưng anh K và ông bà nội không cho. Chị không đồng ý cho anh K nuôi cả 2 con vì anh K đi làm công trình xây dựng, đi sớm về muộn, các cháu đều do ông bà nội chăm sóc nhưng ông bà đã trên 60 tuổi, sức khỏe ngày càng yếu nên việc chăm sóc các cháu có phần hạn chế.
Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung: Thửa đất 1254 tờ bản đồ số 14 Bản đồ địa chính xã Đ diện tích 125m2 tại Thôn Q, xã Đ, huyện Triệu Sơn được UBND huyện Triệu Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT361540, số vào sổ cấp giấy CH 003900- 8138/ QĐ- UBND ngày 16/10/2019 đứng tên Nguyễn Đình K và Mai Thị C trị giá 1.300.000.000đ. Ngoài ra không còn tài sản gì khác. Nguồn tiền mua đất là tiền của vợ chồng chị làm ăn ở Thái Lan từ năm 2012 đến năm 2020, cộng dồn thời gian khoảng 5 năm, thu nhập của hai vợ chồng sau khi trừ chi phí còn khoảng 150.000.000đ/năm nên có đủ tiền mua đất mà không phải vay mượn của ai.
Tại phiên toà, chị đồng ý giao cho anh K quyền sử dụng thửa đất nhưng anh K phải giao cho chị số tiền 650.000.000đ.
Về nợ: Năm 2019, vợ chồng chị mua được thửa đất của ông Trần Văn V giá 500.000.000đ có nhờ bố chồng là ông Nguyễn Đình H đặt cọc 40.000.000đ là đúng nhưng số tiền này là tiền của vợ chồng chị gửi nhờ ông H giữ hộ. Nay ông H đòi vợ chồng chị phải trả 40.000.000đ, chị đồng ý trả cho ông H 20.000.000đ vì ông H có công làm thủ tục giấy tờ đất và chăm sóc con cái cho vợ chồng chị.
Về khoản nợ của chị Nguyễn Thị D: Chị không vay tiền và không trả tiền cho chị Nguyễn Thị D như chị D trình bày. Chị D yêu cầu vợ chồng chị trả 297.000.000đ, tại phiên toà yêu cầu trả tiền Thái Lan 420.000baht, chị không đồng ý vì chị không vay tiền của chị D, còn anh K vay hay không chị không biết. Anh K và chị Nguyễn Thị D là anh em ruột. Chị D làm việc ở Thái Lan có một mình đã mua được hai thửa đất và làm nhà to nên không có tiền cho vợ chồng chị vay.
3- Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 14/12/2021, các văn bản tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Đình H trình bày: Giữa tháng 8/2019, ông Trần Văn V rao bán thửa đất số 1254, tờ bản đồ số 14, diện tích 125 m2 tại thôn Q, xã Đ, huyện Triệu Sơn với giá 500.000.000đ. Ông đã gọi điện cho con gái là Nguyễn Thị D đang làm việc tại Thái Lan cho cháu mua nhưng sau đó, bố con ông bàn bạc nhường lại cho vợ chồng anh Nguyễn Đình K và chị Mai Thị C mua. Anh K nhờ ông đặt cọc trước cho ông V 40.000.000đ. Ngày 30/8/219, ông đã giao 40.000.000đ đặt cọc cho ông V, ông đã cung cấp giấy nhận tiền đặt cọc cho Tòa án. Đây là số tiền riêng của ông, không phải do anh K chị C gửi về. Ngày 01/9/2019 anh K từ Thái Lan về. Đến ngày 03/9/2019 ông và anh K tới nhà ông V làm thủ tục chuyển nhượng và thanh toán hết số tiền mua đất. Ông bỏ tiền làm giấy tờ, thủ tục chuyển nhượng và sang tên hết 7.000.000đ nhưng ông không yêu cầu anh K, chị C trả số tiền này. Ông yêu cầu anh Nguyễn Đình K và chị Mai Thị C phải trả số tiền 40.000.000đ vay để đặt cọc mua đất, nếu vợ chồng ly hôn mỗi người phải trả 20.000.000đ.
4- Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 16/12/2021, các văn bản tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập chị Nguyễn Thị D và người đại diện theo ủy quyền chị Nguyễn Thị A trình bày: Giữa tháng 8/2019, ông Nguyễn Đình H gọi điện sang Thái Lan cho chị D báo ông Trần Văn V đang rao bán thửa đất giá 500.000.000đ. Đến cuối tháng 8/2019, chị D và ông H thống nhất nhường lại cho anh K mua thửa đất này. Ngày 31/8/2019, chị D cho vợ chồng anh K vay 5,5 xẻn tiền Thái Lan được viết cụ thể là 550.000 Baht Thái Lan. Trong đơn yêu cầu chị D tính tỷ giá đổi là 1 Baht Thái Lan tương đương 710 đồng Việt Nam: 550.000 Baht x 710 đồng = 390.500.000 đồng Việt Nam. Chị D làm tròn thành 390.000.000 đồng Việt Nam. Ngày 31/12/2019, vợ chồng anh K trả: 30.000 Baht thời điểm tỷ giá 1 Bath tương đương 700đ = 21.000.000đ Việt Nam. Ngày 06/02/2020 (Trong Biên bản lấy lời khai chị khai ngày 03/3/2020 trả 100.000 Baht là do nhớ nhầm thời gian) trả: 100.000 Baht thời điểm tỷ giá 1 Bath tương đương 720đ = 72.000.000đ đồng Việt Nam. Tổng số tiền vợ chồng anh K đã trả là 130.000 Baht Thái Lan tương đương 93.000.000đ Việt Nam. Khi vay tiền anh K là người nhận tiền. Chị C là người trả tiền cho chị D. Khi vay và trả tiền đều không viết giấy tờ. Số tiền vợ chồng anh K còn nợ: 420.000 Baht Thái Lan tỉ giá 1 Baht tương đương 710 đồng: 420.000 Baht x 710 đ = 298.200.000đ Việt Nam. Chị D yêu cầu vợ chồng anh K trả bằng số tiền theo đơn yêu cầu 297.000.000đồng (Hai trăm chín mươi bảy triệu đồng). Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của chị D yêu cầu vợ chồng anh K trả nợ cho chị D bằng tiền Thái Lan là 420.000 baht.
5 - Luật sư bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho anh K trình bày quan điểm và đề nghị: Nguyên nhA mâu thuẫn của vợ chồng anh K là do chị C có quan hệ ngoại tình dẫn đến có thai, đã vi phạm nghĩa vụ của người vợ. Đến nay, vợ chồng anh K xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng đề nghị Toà án xử cho anh K được ly hôn chị C. Về con chung: Điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc con và thu nhập của anh K tốt và cao hơn của chị C; để tránh xáo trộn tâm lý cho các cháu đề nghị HĐXX giao cả 02 con cho anh K nuôi dưỡng, không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản: Xét tài sản chung của vợ chồng là thửa đất số1254 tờ bản đồ số 14 Bản đồ địa chính xã Đ diện tích 125m2 tại thôn Q, xã Đ phần lớn là công sức đóng góp của anh K, mặt khác chị C có lỗi vi phạm nghĩa vụ vợ chồng đề nghị HĐXX áp dụng điểm b,d Điều 59 Luật Hôn nhA và gia đình giao cho anh K sử dụng thửa đất, anh K giao cho chị C 500.000.000đ. Về nợ: Đề nghị HĐXX công nhận sự thoả thuận của các đương sự: Vợ chồng anh K, chị C trả ông H 40.000.000đ, trong đó anh K trả 20.000.000đ, chị C trả 20.000.000đ. Về khoản nợ của chị D: Anh K và chị C phải trả cho chị D số tiền còn nợ 420.000 baht Thái Lan, tính tỷ giá tại thời điểm xét xử.
6 - Biên bản xác minh ngày 17 tháng 11 năm 2021, đại diện UBND xã Đ, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa cung cấp: Anh K và chị C là công dA của xã Đ. Địa phương không nắm được mâu thuẫn của vợ chồng anh K và chị C. Hiện nay, chị C về ở với bố mẹ đẻ ở thôn Lọc Trạch, Đ. Anh K và các con vẫn ở với bố mẹ anh K ở thôn Quần Nham, xã Đ. Vợ chồng anh K có 02 con chung: Cháu Nguyễn Đình Mai Tnh sinh ngày 17/4/2010 và cháu Nguyễn Đình N sinh ngày 14/01/2016. Các cháu ngoan, khỏe mạnh, đi học đầy đủ, không bị bạo hành. Anh K làm nghề tự do, có thu nhập, sức khỏe tốt, không có vi phạm pháp luật, có đủ điều kiện nuôi con. Chị C đang làm công việc tại nhà, có thu nhập, có sức khỏe, có khả năng lao động để tạo ra thu nhập, chưa có hành vi vi phạm pháp luật nào bị xử lý, có điều kiện để nuôi con.
7- Tại Biên định giá tài sản ngày 23/3/2022, Hội đồng định giá tài sản kết luận: Thửa đất 1254 tờ bản đồ số 14 Bản đồ địa chính xã Đ diện tích 125m2 tại Thôn Q, xã Đ, huyện Triệu Sơn được UBND huyện Triệu Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT361540, số vào sổ cấp giấy CH 003900- 8138/QĐ-UBND ngày 16/10/2019 đứng tên anh Nguyễn Đình K và chị Mai Thị C tại thời điểm định giá có giá: 1.300.000.000đ.
8- Tại văn bản cung cấp tỷ giá của tiền Việt Nam đồng so với các ngoại tệ ngày 28/4/2022 của NgA hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thanh Hoá: 01 Thái Lan Baht tương tương với giá mua vào 589,91 Việt Nam Đồng. Đây là cơ sở để HĐXX tính tỷ giá ngoại tệ tại thời điểm xét xử vụ án.
9 - Đại diện Viện Kiểm sát nhA dA huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dA sự. Các đương sự cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án, tuA theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.
Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51,56 về hôn nhA: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K, xử cho anh được ly hôn chị C.
Về con chung áp dụng Điều 81,82,83 LHNGĐ: Giao cháu Nguyễn Đình Mai Tnh sinh ngày 17/4/2010 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Đình N sinh ngày 14/01/2016 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản áp dụng Điều 33,59,62 LHNGĐ: Giao cho anh K sử dụng thửa đất 1254 tờ bản đồ số 14 Bản đồ địa chính xã Đ với diện tích 125m2 tại Thôn Q, xã Đ, huyện Triệu Sơn được UBND huyện Triệu Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT361540, số vào sổ cấp giấy CH 003900- 8138/QĐ- UBND ngày 16/10/2019 đứng tên Nguyễn Đình K và Mai Thị C trị giá 1.300.000.000đ nhưng anh K phải giao tiền cho chị C 45% tổng giá trị tài sản tương đương 585.000.000đ, anh K còn được hưởng 55% tổng giá trị tài sản là 715.000.000đ.
Về nợ: Chấp nhận sự thoả thuận của ông H, anh K và chị C: Anh K có nghĩa vụ trả cho ông H: 20.000.000đ, chị C có nghĩa vụ trả cho ông H: 20.000.000đ. Bác yêu cầu đòi nợ của chị Nguyễn Thị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Anh K khởi kiện xin ly hôn chị C cư trú tại xã Đ, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhA dA huyện Triệu Sơn theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 BLTTDS.
Về hôn nhA: Anh K và chị C kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhA dA xã Đ, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46 quyển số 01 ngày 16/10/2009 nên là quan hệ hôn nhA hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhA chính là do chị C có quan hệ ngoại tình dẫn đến có thai phải đi phá thai, ngoài ra còn do vợ chồng hay cãi nhau, có lần anh K tát vợ dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, ngày càng trầm trọng. Tại phiên toà, chị C khai anh K chơi bài bạc nhưng không có chứng cứ chứng minh nên không đủ cơ sở xác định. Vợ chồng đã sống ly thA một thời gian dài, cuộc sống của ai người đó tự lo. Anh K đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Chị C cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhA không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhA và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K, xử cho anh được ly hôn chị C.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung: Cháu Nguyễn Đình Mai T sinh ngày 17/4/2010 và cháu Nguyễn Đình N sinh ngày 14/01/2016. Các cháu đang ở với anh K. Xét nguyện vọng và điều kiện nuôi con của các đương sự. Anh K và chị C đều có sức khỏe, có công việc và thu nhập đảm bảo đủ điều kiện nuôi con. Mặc dù, anh K có thu nhập cao hơn chị C nhưng công việc của anh K phải đi sớm về muộn, nếu giao cả hai con cho anh K nuôi dưỡng sẽ gặp khó khăn về điều kiện chăm sóc, ảnh hưởng đến quyền lợi của các cháu. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các cháu nên giao cho mỗi người nuôi một cháu. Cháu Tnh lớn hơn, có nguyện vọng ở với bố nên giao cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu N giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung như đề nghị của Viện kiểm sát nhA dA huyện Triệu Sơn là phù hợp. Do đó, không chấp nhận đề nghị của nguyên đơn và luật sư về việc giao cả 02 con cho anh K nuôi dưỡng.
Trong quá trình nuôi con, nếu người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên còn lại có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản: Tại phiên tòa, anh K có nguyện vọng sử dụng thửa đất 1254 tờ bản đồ số 14 Bản đồ địa chính xã Đ diện tích 125m2 tại thôn Q, xã Đ. Chị C đồng ý giao thửa đất cho anh K và nhận phần tài sản bằng tiền. Các đương sự đều thống nhất giá trị thửa đất theo Hội đồng định giá tài sản là 1.300.000.000đ.
Thửa đất 1254 hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của vợ chồng. Anh K và chị C đều đi làm tạo ra thu nhập, thời gian chị C sinh con phải ở nhà để chăm sóc con nhỏ vì thế công sức đóng góp của vợ chồng đối với tài sản chung là ngang nhau. Tuy nhiên, khi chia tài sản cần phải xem xét lỗi của các bên dẫn đến ly hôn. Trong quá trình chung sống, anh K và chị C đều có lỗi, nhưng nguyên nhân chính là do chị C ngoại tình vi phạm nghĩa vụ chung thuỷ của người vợ theo khoản 1 Điều 19 LHNGĐ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng phải ly hôn. Vì vậy, chị C phải chịu trách nhiệm chính và chỉ được hưởng phần tài sản có giá trị hơn thấp anh K theo tỷ lệ 45%-55%. Trong đó, chị C được hưởng 45% giá trị tài sản tương đương với số tiền: 585.000.000đ, anh K được hưởng 55% giá trị tài sản tương đương với số tiền: 715.000.000đ như đề nghị của Viện kiểm sát nhA dA huyện Triệu Sơn là phù hợp.
Giao cho anh K sử dụng thửa đất 1254 tờ bản đồ số 14 Bản đồ địa chính xã Đ với diện tích 125m2 tại Thôn Q, xã Đ, huyện Triệu Sơn có giá 1.300.000.000đ nhưng anh K phải giao cho chị C số tiền 585.000.000đ.
Về công nợ: Tại phiên hoà giải và phiên toà: Ông H, anh K và chị C đã thoả thuận với nhau về khoản nợ của ông H. Xét sự thoả thuận của các đương sự là tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên HĐXX chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Anh K có nghĩa vụ trả cho ông H: 20.000.000đ, chị C có nghĩa vụ trả cho ông H: 20.000.000đ.
Đối với khoản nợ của chị Nguyễn Thị D: Quá trình giải quyết vụ án chị C không thừa nhận vay baht Thái Lan của chị D. Chị D không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho chị C vay baht Thái Lan nên không có cơ sở buộc chị C trả baht Thái Lan cho chị D. Anh K thừa nhận vay baht Thái Lan của chị D nên anh K có trách nhiệm trả cho chị D: 420.000 baht Thái Lan. Tính tỷ giá ngoại tệ tại thời điểm xét xử: 420.000 baht x 589,91đồng = 247.762.200 đồng là cơ sở để tính án phí.
Về án phí: Anh K và chị C phải chịu án phí theo quy định.
Chi phí thẩm định, định giá tài sản: Anh K và chị C phải chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản theo tỷ lệ phần tài sản được hưởng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1Điều 39, khoản 2,4 Điều 147, các Điều 157, 165, 271, 273, 278, 280 BLTTDS; Điều 213, 463,466 Bộ luật dA sự; Các Điều 33, 51, 56, 59, 62,81,82,83 Luật Hôn nhA và gia đình; Điểm a, b,e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhA: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn xử cho anh Nguyễn Đình K được ly hôn chị Mai Thị C.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đình Mai T sinh ngày 17/4/2010 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Đình N sinh ngày 14/01/2016 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh K và chị C có quyền, nghĩa vụ thăm con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Giao cho anh K quyền dụng thửa đất 1254 tờ bản đồ số 14 Bản đồ địa chính xã Đ diện tích 125m2 tại thôn Q, xã Đ, huyện Triệu Sơn được UBND huyện Triệu Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT361540, số vào sổ cấp giấy CH 003900- 8138/QĐ- UBND ngày 16/10/2019 đứng tên Nguyễn Đình K và Mai Thị C trị giá 1.300.000.000đ nhưng anh K phải giao cho chị C số tiền: 585.000.000đ, anh K được hưởng phần tài sản có giá trị: 715.000.000đ.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4. Về nợ:
4.1- Chấp nhận sự thoả thuận của ông H, anh K và chị C: Anh K có nghĩa vụ trả cho ông H: 20.000.000đ, chị C có nghĩa vụ trả cho ông H: 20.000.000đ.
4.2 - Buộc anh K có nghĩa vụ trả cho chị D: 420.000 baht Thái Lan. Tính tỷ giá ngoại tệ tại thời điểm xét xử: 420.000 baht x 589,910 đồng = 247.762.200 đồng.
5. Về án phí:
5.1- Anh K phải nộp án phí dA sự sơ thẩm ly hôn: 300.000đ, án phí có giá ngạch về tài sản: 32.600.000đ, án phí về nghĩa vụ trả nợ cho ông H và chị D: 13.388.000đ, tổng cộng: 46.288.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số: AA/2021/0006311 ngày 22/10/2021 của Chi cục Thi hành án dA sự huyện Triệu Sơn. Anh K còn phải nộp: 45.988.000đ.
5.2 - Chị C phải nộp án phí có giá ngạch về tài sản: 27.400.000đ, án phí về nghĩa vụ trả nợ cho ông H: 1.000.000đ, tổng cộng: 28.400.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 11.000.000đ tại biên lai số: AA/2021/0006340 ngày 04/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn. Chị C còn phải nộp: 17.400.000đ.
5.3 - Trả cho chị D số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 7.425.000đ tại biên lai số: AA/2021/0006358 ngày 24/12/2021 của Chi cục Thi hành án dA sự huyện Triệu Sơn
6. Chi phí thẩm định, định giá tài sản: Anh K phải chịu tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản là 2.233.000đ được trừ vào số tiền ứng đã nộp là: 4.060.000đ, anh K đã nộp đủ.
Buộc chị C phải trả cho anh K số tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản mà anh K đã nộp tạm ứng là 1.827.000đ.
7. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
8. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.
9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND T. Thanh Hóa; -VKSND. Triệu Sơn; - Chi cục THA. Triệu Sơn; - UBND. xã Đ; - Các đương sự; - Luật sư; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |