vanban.org

Bản án 31/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà Ông Thị Thùy L đối với ông Trương Minh T. Bà Ông Thị Thùy L được ly hôn với ông Trương Minh T.

Về nuôi con chung: Giao 02 nguời con chung tên Trương Hiếu N, sinh ngày 11/3/2010 và Trương Tiến P, sinh ngày 23/02/2012 cho bà Ông Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trương Minh T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà Ông Thị Thùy L đối với ông Trương Minh T. Bà Ông Thị Thùy L được ly hôn với ông Trương Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12 – 4 – 2022
V/v “Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Quách Văn Vệ.

Ông Lê Ngọc Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2021/TLST–HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021 về: “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXXST–HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 04/TB-TA ngày 02 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2022/QĐST–HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ông Thị Thùy L, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh B.

- Bị đơn: Ông Trương Minh T, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 1, thị trấn R, huyện N, tỉnh C.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 01/12/2021 nguyên đơn bà Ông Thị Thùy L trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Trương Minh T tự nguyện chung sống, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh C năm 2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông T chơi bời gây nợ nần nhiều lần mặc dù bà đã khuyên ngăn nhưng vẫn không thay đổi. Ngoài ra, trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cải, ông T nhiều lần xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trương Minh T.

Về nuôi con chung: Bà và ông T có 02 nguời con chung tên Trương Hiếu N, sinh ngày 11/3/2010 và Trương Tiến P, sinh ngày 23/02/2012. Hiện các con đang sống với bà, sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản hòa giải ngày 14/02/2022 bị đơn ông Trương Minh T trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Ông Thị Thùy L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh C. Ông xác định trước đây cũng có chơi bời gây nợ nần làm cho vợ buồn nhưng hiện nay đã thay đổi tính tình chăm lo làm ăn không còn chơi bời nữa. Trong cuộc sống vợ chồng cũng có lúc cự cải những lúc nóng giận có xúc phạm vợ 01 lần chứ không nhiều lần như bà L trình bày. Nay bà L cương quyết ly hôn ông đồng ý ly hôn.

Về nuôi con chung: Ông và bà L có 02 người con chung tên Trương Hiếu N, sinh ngày 11/3/2010 và Trương Tiến P, sinh ngày 23/02/2012. Sau khi ly ông yêu cầu được nuôi Trương Hiếu N, đối với Trương Tiến P đồng ý giao cho bà L nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 03/3/2022 bà Ông Thị Thùy L trình bày: Bà vẫn giữ quan điểm tại đơn khởi kiện. Do điều kiện đi làm ăn xa nên yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Ông Thị Thùy L khởi kiện xin ly hôn với ông Trương Minh T, địa chỉ: Khóm 1, thị trấn R, huyện N, tỉnh C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà Ông Thị Thùy L có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Trương Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà L và ông T.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Ông Thị Thùy L và ông Trương Minh T qua tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 90 ngày 14/12/2005 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh C nên hôn nhân giữa bà L và ông T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Bà L nhận thấy cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn thường xuyên xảy ra cự cải do ông T chơi bời gây nợ nần nhiều lần và nhiều lần xúc phạm danh dự, nhân phẩm bà, mặc dù bà đã khuyên ngăn nhưng vẫn không thay đổi nên bà yêu cầu được ly hôn. Ông T xác định trước đây cũng có chơi bời gây nợ nần làm cho vợ buồn nhưng hiện nay đã thay đổi tính tình chăm lo làm ăn không còn chơi bời nữa. Trong cuộc sống vợ chồng cũng có lúc cự cải những lúc nóng giận có xúc phạm vợ chứ không nhiều lần như bà L trình bày. Nay bà L cương quyết ly hôn ông đồng ý ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn của bà L và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L, bà L được ly hôn với với ông T.

Về nuôi con chung: Gồm có 02 nguời con chung tên Trương Hiếu N, sinh ngày 11/3/2010 và Trương Tiến P, sinh ngày 23/02/2012. Sau khi ly hôn bà L yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ông T yêu cầu được nuôi Trương Hiếu N và giao Trương Tiến P cho bà L nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 14/02/2022 của con chung Trương Hiếu N và Trương Tiến P đều có nguyện vọng sống với bà L và bà L có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nên Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng của con chung căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quyết định để bà L trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trương Hiếu N và Trương Tiến P. Bà L không yêu cầu cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà L phải chịu 300.000 đồng. Bà L đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019891 ngày 21 tháng 12 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà Ông Thị Thùy L đối với ông Trương Minh T. Bà Ông Thị Thùy L được ly hôn với ông Trương Minh T.

Về nuôi con chung: Giao 02 nguời con chung tên Trương Hiếu N, sinh ngày 11/3/2010 và Trương Tiến P, sinh ngày 23/02/2012 cho bà Ông Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Trương Minh T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của bà Ông Thị Thùy L.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Ông Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng. Bà Ông Thị Thùy L đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019891 ngày 21 tháng 12 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ