vanban.org

Bản án 31/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 25/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ - Căn cứ: khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Chúc Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Xử phạt bị cáo Nguyễn Chúc Q 06 (sáu) năm tù Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chúc Quyên - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ - Căn cứ: khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GIÁ RAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẠC LIÊU
——————————
Bản án số: 31 /2021/HSST
Ngày 25-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Lê Quốc Khởi

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Cao Thị Mỹ Phượng

2/ Ông Nguyễn Thành Nhạn

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đèo – thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: ông Phạm Hoàng Giang – Kiểm sát viên

Ngày 25/5/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2020/HSST ngày 08/3/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Chúc Q – sinh năm: 1973; Tên gọi khác: không. Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: ấp 1, xã PTĐ, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị Tr; Chồng: Nguyễn Văn Th; Con: hai người lớn nhất sinh năm 1992 nhỏ nhất sinh năm 1998: Tiền án; tiền sự: không

(Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong vụ án khác)

Người bị hại:

Ông Trần Ngọc Phúc – sinh năm: 1968

Bà Nguyễn Thị Sang – sinh năm: 1972

Cùng địa chỉ: ấp Bình Minh, xã Vĩnh Mỹ B, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong khoảng thời gian từ ngày 01/02/2017 đến ngày 13/02/2017 giữa vợ, chồng ông Trần Ngọc Ph, bà Nguyễn Thị S và Nguyễn Chúc Q có mối quan hệ làm ăn với nhau trong việc thu mua lúa của các hộ dân trong khu vực xã Phong Thạnh Đ, thị xã G R, tỉnh Bạc Liêu. Nguyễn Chúc Q làm trung gian đi xem lúa và đặt cọc mua lúa cho vợ chồng ông Trần Ngọc Ph, bà Nguyễn Thị S.

Trong khoảng thời gian này, ông Ph, bà S có đưa tiền cho Nguyễn Chúc Q nhiều lần với tổng số tiền là 745.000.000 đồng để đặt cọc mua lúa, mỗi lần nhận tiền thì Nguyễn Chúc Q đều có ký vào sổ nợ. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Chúc Q có đi đặt cọc để thu mua lúa của các hộ dân với số tiền là 316.000.000 đồng, còn lại số tiền 429.000.000 đồng, Nguyễn Chúc Q đã sử dụng vào mục đích cá nhân dẫn đến không còn khả năng thanh toán cho ông Ph và bà S nên đã bỏ trốn khỏi địa phương

Tại Cáo trạng số 20/CT- VKSGR-KSĐT ngày 04/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo Nguyễn Chúc Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai vẫn giữ nguyên bản Cáo trạng đã truy tố: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Nguyễn Chúc Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” xử phạt bị cáo Nguyễn Chúc Q mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.

Tại phiên tòa: Bị cáo xác định đã ăn năn hối cải về hành vi của mình việc Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo là không oan cho bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có điều kiện trở về đi làm trả nợ cho bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: đồng ý trả cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt là 429.000.000 đồng

Người bị hại ông Ph và bà S có yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền là 429.000.000 đồng và có yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thị xã Giá Rai, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Chúc Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chúc Q đã thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận như sau: trong khoảng thời gian từ ngày 01/02/2017 đến ngày 13/02/2017 giữa bị cáo và vợ chồng ông Ph có mối quan hệ làm ăn với nhau trong việc thu mua lúa của các hộ dân trong khu vực xã Phong Thạnh Đ, thị xã G R. Trong đó bị cáo làm trung gian đi xem lúa và đặt cọc cho vợ chồng ông Ph. Trong khoảng thời gian này vợ chồng ông Ph đã đưa cho bị cáo số tiền là 745.000.000đ để đặt cọc mua lúa, sau khi nhận tiền bị cáo có đi đặt cọc mua lúa số tiền là 316.000.000đ, số tiền còn lại 429.000.000đ bị cáo đã sử dụng vào mục đích cá nhân dẫn đến không có khả năng thanh toán cho vợ chồng ông Ph nên đã bỏ trốn khỏi địa phương nhằm chiếm đoạt số tiền trên.

Hình thức thực hiện hành vi của bị cáo là sau khi nhận được số tiền của bị hại thông qua việc trung gian đặt cọc mua lúa của các hộ dân với số tiền là 745.000.000đ, sau đó bị cáo đặt cọc số tiền là 316.000.000đ, số tiền còn lại 429.000.000đ đã sử dụng để chi xài cá nhân sau đó bỏ trốn để chiếm đoạt. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo Nguyễn Chúc Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người bị hại. Quá trình giao dịch với nhau, người bị hại đã tin tưởng giao cho bị cáo số tiền 745.000.000đ, thay vì thực hiện việc đặt cọc hết số tiền trên theo như thỏa thuận nhưng bị cáo chỉ đặt cọc số tiền là 316.000.000đ, số tiền còn lại 429.000.000đ bị cáo đã viết biên nhận, nhận nợ và hứa hẹn trả nhưng bị cáo đã bỏ trốn không trả nợ, sau khi được cơ quan có thẩm quyền thông báo về làm việc nhưng bị cáo không chấp hành cho đến khi bị bắt theo lệnh truy nã. Điều này cho thấy ý thức bị cáo muốn chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo lợi dụng sự tin tưởng của bị hại chiếm đoạt tiền để tiêu xài cá nhân cho đến nay chưa khắc phục được phần nào hậu quả, làm cho người bị hại lâm vào hoàn cảnh khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế bình thường của người dân địa phương.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định. Mặc dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng với hành vi phạm tội rất nghiêm trọng như trên sau khi đã xem xét các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng cho bị cáo một mức án tương xứng nhằm răn đe, giáo dục bị cáo cũng như nâng cao ý thức phòng ngừa tội phạm.

Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa người bị hại có yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả số tiền là 429.000.000đ. Bị cáo đồng ý trả cho bị hại số tiền trên. Đây là sự tự nguyện của bị cáo nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Buộc bị cáo Nguyễn Chúc Q có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Trần Ngọc Phúc và bà Nguyễn Thị Sang số tiền là 429.000.000đ

Xét ý kiến đề xuất xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai về hình phạt và điều luật áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Chúc Q phải chịu theo quy định pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Chúc Q có nghĩa vụ chịu án phí dân sự có giá ngạch là 21.160.000đ {(20.000.000đ + (4% x 29.000.000đ)}.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ - Căn cứ: khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Chúc Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Chúc Q 06 (sáu) năm tù

Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành hình phạt

2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; áp dụng Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Chúc Q có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Trần Ngọc Phúc và bà Nguyễn Thị Sang số tiền là 429.000.000đ

3/- Án phí: áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Chúc Q phải chịu là 200.000đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Chúc Q có nghĩa vụ chịu án phí dân sự có giá ngạch là 21.160.000đ.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ