- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ma Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2021/HSST Ngày: 26/8/2021 |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Văn Thiết và bà Long Thị Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Thơm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31 /2021/TLST-HS ngày 04 tháng 08 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 08 năm 2021 đối với bị cáo:
MA VĂN TH (tên gọi khác không) sinh ngày 04 tháng 05 năm 1975 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT, chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Văn Tr (đã chết) và con bà Hoàng Thị V; vợ: Triệu Thị Ch (chung sống với nhau như vợ chồng không có đăng ký kết hôn); con: Có 02 (hai) con (con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2001); tiền án: 01 (một) ngày 19/3/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên tuyên phạt 30 tháng tù tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 104/2018/HSST. Ngày 20/01/2020 chấp hành xong trở về địa phương, đến nay chưa được xóa án tích; tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo bị Tòa án nhân dân tối cao tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ r ng” theo Bản án hình sự số: 498/1995/HSPT ngày 20/4/1995, hiện đã được xóa án tích. Ngày 04/03/2021 bị Tòa án Quân sự Khu vực, Quân khu A tuyên phạt 09 tháng tù về tội đánh bạc theo bản án hình sự số 04/2021/HS - ST, tuy nhiên vụ án hiện đang bị hủy để điều tra lại (theo bản án số 01/2021/HS-PT ngày 03/6/2021 của Tòa án quân sự Quân khu A). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ t ngày 23/02/2021 đến ngày 02/03/2021 thì được hủy bỏ. Ngày 29/03/2021 bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Ma Văn Th: Ông Hà Văn T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Công ty tài chính TNHH MTV A (VPB FC)
Địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà R, số A Đoàn Văn B, phường B, quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G, Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lý Tuấn A – Chức vụ: Giám đốc trung tâm an ninh – VPB FC.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án: Ông Trương Mạnh H – Chức vụ: Điều tra Cao cấp.
Địa chỉ: Số C, Ngách D, Tổ E, Phường N, Quận L, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
- Bà Triệu Thị Ch; Sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Triệu Thị Ch: Ông Ma Văn Th – sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 23/02/2021, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện C đang làm nhiệm vụ tại thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã phát hiện và bắt quả tang bị cáo Ma Văn Th đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi áo khoác ngoài bên trái của bị cáo Ma Văn Th đang mặc 01 (một) gói được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong gói bằng 02 (hai) lớp giấy có chứa cục và chất bột màu trắng. Tiến hành trích mẫu cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy, kết quả thuốc thử phản ứng dương tính với ma túy loại Heroine (được niêm phong vào phong bì ký hiệu T1). Ngoài ra Cơ quan điều tra còn tạm giữ 01 (một) xe môtô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, biển kiểm soát 97B1 - 692.66, xe đã qua sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng hồi 17 giờ 00 phút ngày 23/02/2021 xác định: Cân riêng toàn bộ cục và chất bột màu trắng trong 01 (một) gói được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 có khối lượng là 1,40g (một phẩy bốn không gam) niêm phong gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định ký hiệu T2.
Tại Kết luận giám định số: 60/KTHS-MT ngày 02/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 1,40g (một phẩy bốn không gam).
Sau giám định, mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T2 gửi giám định còn lại: 1,20g (một phẩy hai không) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T60 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Th khai nhận: Toàn bộ số ma túy Heroine mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là do bị cáo Th mua về để sử dụng cá nhân, cụ thể: 01 (một) gói ma túy Heroine mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là của bị cáo Th do bị cáo Th mua về để sử dụng cá nhân, cụ thể: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/02/2012, bị cáo Ma Văn Th một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, biển kiểm soát 97B1 - 692.66 t thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đi thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn tìm mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, bị cáo Th đến khu vực mỏ đá thuộc tổ A, thị trấn B, huyện C và mua được 02 (hai) gói ma túy với giá tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) với một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ). Sau đó bị cáo Th một mình sử dụng hết 01 (một) gói nhỏ ma túy, gói còn lại cất giấu tại túi áo khoác bên trái bị cáo đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay lại xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày khi đi đến khu vực đường thuộc thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy bị cáo Th đang tàng trữ trên người.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Công ty tài chính TNHH MTV A (VPB FC) có đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án và trình bày ý kiến của Công ty đối với nội dung vụ án như sau: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 97B1 – 692.66, tại thời điểm bị cáo Ma Văn Th thực hiện hành vi phạm tội, chiếc xe đang được bị cáo Th thế chấp với Công ty tài chính TNHH MTV A (VPB FC), theo hợp đồng thế chấp số: 20200320 – 3914167 ngày 20/03/2020, hiện nay số tiền mà bị cáo Th phải thanh lý hợp đồng là 13.286.818đ. Ngày 23/02/2021, bị cáo Ma Văn Th sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy, phía Công ty VPB FC không biết. Do đó, Công ty có ý kiến lấy lại chiếc xe để xử lý theo quy định của pháp luật nhằm thu hồi khoản nợ mà bị cáo Th chưa thanh toán với số tiền là 13.286.818đ (mười ba triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn, tám trăm mười tám đồng) và không yêu cầu lãi phát sinh.
Tại bản cáo trạng số: 31/CT- VKSCĐ ngày 04 tháng 08 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Ma Văn Th về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)……………………….
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Ma Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Văn Th t 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày bị cáo bị tạm giam và tr đi ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.
Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 317, Điều 323 Bộ luật dân sự. Đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì ký hiệu T60. Phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 03 (ba) chữ ký không đọc được (bên trong có 1,20g ma túy còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ gửi giám định);
+ 01 (một) phong bì ký hiệu T3. Phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 03 (ba) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn, 04 (bốn) chữ ký không đọc được và các dòng chữ Khương Danh Th, Nguyễn Viết H, Th, Ma Văn Th, Ma Thị Tô H (bên trong có giấy gói ban đầu tạm giữ được của Ma Văn Th và vỏ phong bì ký hiệu T1).
- Tịch thu để giao Chi cục Thi hành án phối hợp với Công ty tài chính TNHH MTV A bán đấu giá thu hồi khoản nợ với tổng số tiền là 13.286.818đ (mười ba triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn, tám trăm mười tám đồng) phần còn lại sung quỹ nhà nước (nếu có) đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát: 97B1 - 692.66, số máy: JA39E0205370, số khung: 3901HY205314.
Về án phí: Bị cáo Ma Văn Th được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Người bào chữa cho bị cáo Ma Văn Th cho rằng việc truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Th đó là: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo là người có khuyết tật nhẹ (bị cụt bàn tay phải). Do đó, người bào chữa cho bị cáo Th đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất do đại diện Viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, lý do bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có thu nhập. Đối với án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo vì bị cáo thuộc diện dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/02/2021 tại khu vực mỏ đá thuộc tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo Ma Văn Th đã có hành vi mua trái phép 02 (hai) gói ma túy Heroine với số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) với một người đàn ông không quen biết để sử dụng cá nhân. Sau khi mua được ma túy bị cáo sử dụng hết 01 (một) gói ma túy mua được, 01 (một) gói ma túy còn lại có khối lượng 1,40g (một phẩy bốn không gam) bị cáo cất giấu vào túi áo khoác bên trái bị cáo đang mặc mục đích để sử dụng dần, rồi điều khiển xe mô tô quay về xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực đường thuộc thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì Cơ quan Công an phát hiện và bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận giám định là chất ma tuý (heroine) và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ của vụ án. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì bị cáo nghiện chất ma túy để thoả mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ng a chung.
Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với bị cáo và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 (một) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo theo giấy xác nhận khuyết tật số hiệu 02023000035 của Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị cáo là người khuyết tật mức độ nhẹ (cụt bàn tay phải) do vậy bị cáo được hưởng 01 (một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 19/3/2018, bị cáo Ma Văn Th bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên tuyên phạt 30 (ba mươi) tháng tù tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số: 104/2018/HSST. Đến ngày 20/01/2020 thì chấp hành án xong trở về địa phương, hiện chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu 01 (một) tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, bị cáo là người có khuyết tật nhẹ (cụt bàn tay phải). Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) là người đã bán ma túy (heroine) cho bị cáo Th tại khu vực khu vực mỏ đá thuộc tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, kết thúc điều tra bị cáo Ma Văn Th không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với chị Triệu Thị Ch là người chung sống như vợ chồng với bị cáo Th tuy nhiên không có đăng ký kết hôn. Quá trình điều tra xác định chị Triệu Thị Ch không có quyền lợi gì liên quan đến chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 97B1 – 692.66. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn không xem xét xử lý là phù hợp.
. Xét về vật chứng:
- 01 (một) phong bì ký hiệu T60, phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 03 (ba) chữ ký không đọc được (bên trong có 1,20g ma túy còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ gửi giám định); 01 (một) phong bì ký hiệu T3, phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 03 (ba) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn, 04 (bốn) chữ ký không đọc được và các dòng chữ Khương Danh Th, Nguyễn Viết H, Th, Ma Văn Th, Ma Thị Tô H (bên trong có giấy gói ban đầu tạm giữ được của Ma Văn Thiết và vỏ phong bì ký hiệu T1) - xác định là vật không có giá trị sử dụng và vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 97B1 – 692.66, số máy: JA39E0205370, số khung: 3901HY205314, xe đã qua sử dụng – xác định như sau: Chiếc xe trên thuộc sở hữu của bị cáo Ma Văn Th (đã được cấp Giấy đăng ký xe mô tô đứng tên Ma Văn Th). Tuy nhiên chiếc xe mô tô đang được bị cáo Th thế chấp để bảo đảm cho khoản nợ vay của Công ty Công ty tài chính TNHH MTV A (VPB FC) và hợp đồng thế chấp số: 20200320 – 3914167 ngày 20/03/2020 là hợp pháp. Hiện nay số tiền phía Công ty Công ty tài chính TNHH MTV A (VPB FC) yêu cầu bị cáo Th còn phải thanh lý hợp đồng là 13.286.818đ (mười ba triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn, tám trăm mười tám đồng) và không yêu cầu lãi phát sinh. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của Công ty Công ty tài chính TNHH MTV A (VPB FC) – Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao chiếc xe mô tô trên cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Công ty Công ty tài chính TNHH MTV A (VPB FC) xử lý bán đấu giá tài sản để thu hồi nợ vay (số tiền là 13.286.818đ (mười ba triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn, tám trăm mười tám đồng)), phần giá trị còn lại (nếu có) tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
. Xét về án phí: Xét thấy Ma Văn Th được miễn án phí do bị cáo thuộc diện đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm do đó Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ma Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
[1]. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Văn Th 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính t ngày bị cáo bị tạm giam 29/3/2021 (bị cáo được tr đi thời gian bị cáo bị tạm giữ t ngày 23/02/2021 đến ngày 02/03/2021).
Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không phạt tiền đối với bị cáo.
[2]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 317, Điều 323 Bộ luật dân sự.
- Tịch thu để giao 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 97B1 – 692.66, số máy: JA39E0205370, số khung: 3901HY205314 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Công ty Công ty tài chính TNHH MTV A (VPB FC) xử lý bán đấu giá tài sản để Công ty Công ty tài chính TNHH MTV A (VPB FC) thu hồi nợ vay theo hợp đồng thế chấp số: 20200320 – 3914167 ngày 20/03/2020 với số tiền là 13.286.818đ (mười ba triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn, tám trăm mười tám đồng) - không tính lãi phát sinh, phần giá trị còn lại (nếu có) tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy tất cả các vật chứng còn lại, bao gồm: 01 (một) phong bì ký hiệu T60, phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 03 (ba) chữ ký không đọc được (bên trong có 1,20g ma túy còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ gửi giám định); 01 (một) phong bì ký hiệu T3, phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 03 (ba) dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn, 04 (bốn) chữ ký không đọc được và các dòng chữ Khương Danh Th, Nguyễn Viết H, Th, Ma Văn Th, Ma Thị Tô H (bên trong có giấy gói ban đầu tạm giữ được của Ma Văn Th và vỏ phong bì ký hiệu T1).
(Số lượng, tình trạng và ký hiệu vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Chợ Đồn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Điều 136/BLTTHS; quy định về trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí; Điểm đ Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Ma Văn Th được miễn 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trưêng hîp B¶n ¸n, QuyÕt ®Þnh ®ưîc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù th× ®ưîc ngưêi thi hµnh ¸n d©n sù, ngưêi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn thỏa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ cưìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6,7 vµ 9 luËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiệu thi hµnh ¸n ®ưîc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc kể t ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Đồn - VKSND tỉnh Bắc Kạn - CA huyện Chợ Đồn - THADS huyện Chợ Đồn - TA Tỉnh Bắc Kạn: - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn - Người QLNVLQ; - NBC; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Đặng Đình Hưng |