vanban.org

Bản án 31/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 20/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T; sửa Bản án sơ thẩm số 76/2020/HSST ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giảm hình phạt cho bị cáo:

Tuyên ố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường ộ”. Xử phạt: Nguyễn Thanh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày ắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T; sửa Bản án sơ thẩm số 76/2020/HSST ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giảm hình phạt cho bị cáo:
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2021/HSPT
Ngày 20 - 4 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Thiện

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thành Hiếu

Ông Đặng Đức Hào

-Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín, Thư ký Tòa án.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2021/HSPT ngày 19/3/2021 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2020/HSST ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thanh T; sinh năm 1994 tại T;

Hộ khẩu thường trú: 103/10 Trần Phú, khu phố 1, phường X, thành phố L, tỉnh Đ; tạm trú: như trên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn h a: 12 12; dân tộc: inh; giới t nh: Nam; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và à Lâm Mỹ P; ị cáo chưa c vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại. (Có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

hoảng 18 giờ 20 phút ngày 12 4 2020, Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô iển số 60 2-640.47 lưu thông trên đường QL56 hướng từ huyện CĐ về Tp. . hi T điều khiển xe đi đến đoạn m 44 + 440 trên QL56 đoạn thuộc ấp ắc 2, xã H, thành phố thì xảy ra va chạm với xe mô tô iển số 72 1 - 301.71 do à Trần Thị M, sinh năm 1960 điều khiển lưu thông cùng chiều làm à M ngã xuống đường ị chấn thương nặng phải điều trị tại ệnh viện à Rịa, đến ngày 26 4 2020 thì tử vong.

ết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông, xảy ra tại m 44+440, đường QL56 đoạn thuộc ấp ắc 2, xã H, thành phố , tỉnh à Rịa-Vũng Tàu. Mặt đường được trải nhựa ằng phẳng, không c chướng ngại vật, tầm nhìn không ị che khuất. Đường QL 56 là đường hai chiều, giữa tim đường c vạch sơn màu trắng đứt quảng chia làm hai làn chiều xe chạy; mặt đường rộng 12m chia làm 04 làn, 02 làn giữa rộng mỗi làn 3,5m, 02 làn sát hai lề đường rộng mỗi làn 2,5m.

Chọn lề chuẩn là mép lề ên phải đường QL 56 theo hướng từ CĐ đi tp B và lấy trụ mốc m H4 44 nằm trên lề chuẩn, cách lề 01m làm điểm cố định.

Tại hiện trường phát hiện các dấu vết phương tiện như sau:

Xe mô tô iển số 60 2-640.47 nằm ngã nghiêng ên trái trên mặt đường QL 56, đầu xe hướng vào ph a lề chuẩn, đuôi xe hướng ra tim đường. Hình chiếu tâm đầu trục ánh 2,3m; cách điểm mốc 7,4m; hình chiếu tâm đầu trục ánh sau của xe 3,5m.

Xe mô tô iển số 72 1-301.71 nằm ngã nghiêng ên trái trên lề đường QL 56 ph a trong lề chuẩn đầu xe hướng vào ph a trong, đuôi xe hướng ra đường QL 56, hình chiếu tâm đầu trục ánh trước của xe cách lề chuẩn 1,4m, cách điểm mốc 8,3 m, hình chiếu tâm đầu trục ánh sau của xe nằm trên lề chuẩn, xe mô tô 72 1-301.71 cách mô tô iển số 60 2-640.47 là 3,7 m.

Vết cày do xe mô tô iển số 60 2-640.47 để lại trên mặt đường QL 56 là vết cày đứt quãng dài 11 m, sau tai nạn nằm ngã nghiêng ên trái trên mặt đường QL 56, đầu xe hướng vào lề chuẩn, đuôi xe hứơng ra tim đường là vết cày đứt quảng dài 11 m c phương dọc theo lề chuẩn hướng từ CĐ về tp B, điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 2,5m, điểm cuối vết cày nằm dưới xe mô tô iển số 60 2-640.47, cách lề chuẩn 3,0m.

Vết cày do xe mô tô iển số 72 1-301.71 để lại trên mặt đường QL 56 là vết cày đứt quãng dài 10,6m c phương dọc lề chuẩn hướng từ CĐ về tp B, điểm đầu vết cày cách lề chuẩn 1,5m, điểm cuối vết cày nằm dưới xe mô tô iển số 72K1-301.71 ph a trong lề, cách lề chuẩn 0,8m.

Vết máu nạn nhân nằm trên mặt đường QL 56, màu đỏ, k ch thước (1,7 x 0,3cm) cách lề chuẩn từ 0,2m đến 1,9m, điểm cuối của vết máu cách xe mô tô 72K1-301.71 là 4,2m.

hu vực va chạm (điểm đụng) cách lề chuẩn là 1,7m; cách vị tr đầu vết cày xe mô tô iển số 60 2-640.47 là 1,9m, điểm đúng cách điểm mốc (cột mốc 6m 44+440) là 6,8m.

ết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn thể hiện:

- Xe mô tô iển số 60 2-640.47, sau tai nạn để lại các dấu vết sau: Đèn chuyển hướng ph a trước ên phải ể vỡ k ch thước (18x7cm) theo chiều từ trước ra sau, cách mặt đất từ 73cm đến 85 cm; Ốc ên phải đầu trục ánh xe trước c vết iến dạng k ch thước (01x0,5cm) theo chiều từ trước ra sau, cách mặt đất từ 28cm đến 29cm; Tay thắng ên trái trầy kim loại k ch thước (01x01cm) cách mặt đất 90cm; Gác chống đỡ trầy kim loại (02x01cm) cách mặt đất 27cm; Gác chân trước ên trái trầy kim loại (03x03cm) cách mặt đất 25cm.

- Xe mô tô iển số 72 1-301.71 sau tai nạn để lại các dấu vết sau: Đèn chuyển hướng ph a sau ên trái của xe ể vỏ k ch thước (10x05cm) theo chiều hướng từ sau ra trước, cách mặt đất từ 70cm đến 75cm; Ốp nhựa thân xe ên trái ph a sau c vết nứt vỡ, trầy xước d nh sơn màu đen, trắng, k ch thước (18x8cm) chiều hướng từ sau ra trước, cách mặt đất từ 52cm đến 64cm; Nẹp kim loại tăng sên ph a sau ên trái cong vênh, trầy kim loại k ch thước (01x01cm) theo chiều từ sau ra trước, cách mặt đất từ 28cm đến 29cm; Tay lái ên trái trầy kim loại k ch thước (02x01cm), cách mặt đất 90cm; Ốp nhựa đầu xe và đèn chuyển hướng từ ph a trước ên trái trầy xước (10x05cm), cách mặt đất 9cm; Gác chân ph a trước ên trái cong vênh, trầy kim loại theo chiều từ trước ra sau, cách mặt đất từ 30cm.

Tại ản kết luận giám định pháp y số 155 PC09-Đ2-PY ngày 20 5 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh R-VT kết luận:

Nguyên nhân chết của à Trần Thị M với các dấu hiệu ch nh qua giám định: Vết thương rách da trán trái, đ ng vảy, k ch thước 02 cm x 1,5cm. Vết thương rách da đầu vùng thái dương trái đã khâu lâm sàng, k ch thước 03 cm x 01 cm. Tụ máu dưới da đầu vùng Đỉnh- Thái dương trái, k ch thước 10 cm x 07 cm, vùng trán trái k ch thước 09 cm x 04 cm, Màng cứng não sung huyết. Tụ máu dưới màng cứng án cầu phải dày đặc thùy Thái Dương phải. Não phù nặng. Máu tụ trong khe não án cầu phải. Nguyên nhân chết: à Trần Thị M chết do Chấn thương sọ não: phù não, tụ máu não. Vật tác động gây chết là vật tày, diện tiếp xúc rộng, tác động trực tiếp vào vùng đầu cơ thể nạn nhân theo chiều từ trái qua phải, chếch từ trước ra sau.

Tại ản kết luận giám định số 505 PC09-Đ2 ngày 22 5 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh à Rịa - Vũng Tàu kết luận:

- Về dấu vết va chạm giữa 02 phương tiện xe mô tô S 60 2-640.47 và xe mô tô S 72 1301.71 như sau:

+ Dấu vết vỡ nhựa tại mặt ốp nhựa ảo vệ giảm x c trước ên phải, dấu vết trượt xước kim loại tại mặt trước ph a dưới giảm x c trước ên phải, dấu vết cong và ám d nh chất màu (dạng sơn) tại mặt trước và mặt dưới ốc cố định trục ánh trước và đầu trục ánh trước ên phải ở xe mô tô S 60 2-640.47 c chiều hướng từ trước ra sau, phù hợp với dấu vết trược xước mất kim loại, cong, ong và mất sơn màu xám tại phần trên của khoen trục sau ên trái; dấu vết trược xước kim loại tại mặt ngoài ốc cố định trục tăng giảm x ch và mặt ngoài trục tăng giảm x ch ở xe mô tô BS 72K1- 301.71 c chiều hướng từ sau ra trước.

+ Dấu vết trược xước màu đen tại mặt trước ph a dưới giảm x c trước ên phải ở xe mô tô S 60 2-640.47 c chiều hướng từ trước ra sau, phù hợp mất nhựa tổng hợp tại mặt sau đầu gác để chân sau ên trái ở xe mô tô S 72 1-301.71 c chiều hướng từ sau ra trước.

+ Dấu vết vỡ nhựa đèn chuyển hướng trước ên phải và dấu vết vỡ nhựa ph a dưới đèn chuyển hướng; dấu vết trược xước màu đỏ trên ề mặt nhựa đèn chuyển hướng ph a trước ên phải ở xe mô tô S 60 2-640.47 c chiều hướng từ sau ra trước, phù hợp với dấu vết vỡ nhựa đèn chuyển hướng ph a sau ên trái: dấu vết nứt nhựa, dáu vết trược xước màu đen và màu trắng tại mặt ngoài nhựa ảo vệ thân xe ph a sau ở S 72 1-301.71 c chiều hướng từ sau ra trước.

ết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Thanh T theo hồ sơ ệnh án là 1,2384 g 1 (kết quả xét nghiệm ngày 12 4 2020).

ết quả điều tra xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông: Nguyễn Thanh T khai nhận: hi dự tiệc thì c uống ia đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12 4 2020, T điều khiển xe mô tô S 60 2-640.47 lưu thông trên làn đường xe mô tô, QL 56 hướng từ huyện CĐvề tp B. hi đi đến trước Công ty iva tại m 44 + 440, QL 56 thuộc ấp ắc 2, xã H, Tp. B thấy à Trần Thị M điều khiển xe mô tô chạy cùng chiều ph a trước, T ật t n hiệu đèn xi nhan trái vượt lên trước thì xảy ra va chạm vào ph a sau xe à M dẫn đến tai nạn. Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn do ị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường ộ mà trong máu c nồng độ cồn vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu ia; vượt xe không đảm ảo an toàn vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường ộ, làm à Mai chết.

Taị Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2020/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên ố ị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm khoản 2 Điều 260; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thanh T 03 năm 06 tháng ( a năm sáu tháng) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày ắt ị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án ph và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 27/11/2020, bị cáo Nguyễn Thanh T c đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã phát iểu quan điểm đồng thời phân tích, đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Qua đ Đại diện Viện kiểm sát nhận xét bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; sau khi nghe quan điểm Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T làm và gửi trong thời hạn quy định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm như sau:

Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án hành vi của Thẩm phán, quyết định của Tòa án nhân dân thành phố , tỉnh à Rịa – Vũng Tàu đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng. ị cáo và các đương sự khác không c ai khiếu nại hay tố cáo hành vi, quyết định của Thẩm phán và của Tòa án.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nhận thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định như sau:

hoảng 18 giờ 20 phút ngày 12 4 2020, tại m 44+440, đường QL56 đoạn thuộc ấp ắc 2, xã H, thành phố , Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô iển số 60B2-640.47, trong tình trạng đã sử dụng rượu ia, trong máu c nồng độ cồn (nồng độ 1,2384 g 1 kết quả xét nghiệm ngày 12 4 2020); vượt xe lưu thông ph a trước không đảm ảo an toàn nên gây tai nạn với xe mô tô iển số 72 1-301.71 do à Trần Thị M điều khiển lưu thông cùng chiều, hậu quả làm à Trần Thị M tử vong.

Hành vi của ị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu ia, sửa đổi, ổ sung, và khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường ộ; vượt xe không đảm ảo an toàn vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường ộ, hậu quả làm chết 01 người đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm khoản 2 Điều 260 ộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi ổ sung năm 2017, phù hợp với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố .

Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Tâm như sau:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng tại phương. ị cáo điều khiển xe tham gia giao thông khi có nồng độ cồn trong máu vượt mức cho phép khi tham gia giao thông, hậu quả làm 01 người chết gây đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân. Do vậy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo T 03 năm 06 tháng (ba năm sáu tháng) tù. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai áo và đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, mức hình phạt sơ thẩm tuyên phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc, từ đ khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T; sửa Bản án sơ thẩm số 76/2020/HSST ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giảm hình phạt cho bị cáo:

Tuyên ố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường ộ”.

Áp dụng điểm khoản 2 Điều 260; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thanh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày ắt thi hành án.

2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 76/2020/HSST ngày 25/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo T không phải nộp.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/4/2021).

Cỡ chữ