- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn S, phạm tôi Tàng trữ trái phép chất ma tuy theo khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2021/HS-ST Ngày: 30/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hảo
Các hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Cải
Bà Bùi Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Bình, Thư ký Toà án nhân dân huyện Y.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Lê Hiệp Thương, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
1. Bùi Văn S, sinh ngày 10/9/1986 tại xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: xóm A, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 02/12; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Bùi Văn H (đã chết) và bà Bùi Thị D; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2021 đến nay được trích xuất - Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
Anh Bùi Văn L, sinh năm 1973
Nơi ĐKHKTT: xóm S, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt)
Anh Bùi Hồng P, sinh năm 1972.
Nơi ĐKHKTT: xóm K, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2021 do nghiện ma túy Bùi Văn S đi bộ từ nhà tới xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi tới địa phận xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình, S thấy một người thanh niên không quen biết khoảng 32 tuổi, cao khoảng 170 cm, dáng người béo, có hình săm ở cổ tay, mặc áo phông màu đen, quần ngắn màu nâu, đi xe mô tô WAVE, bịt khẩu trang đang đứng một mình, S đến gần hỏi “Anh có trắng không, bán cho em hai trăm” (ý của S hỏi mua ma túy, loại Heroine của người này với số tiền 200.000 đồng) người này trả lời “có, tiền đâu” sau đó S đưa số tiền 200.000 đồng cho người này và được người này đưa cho 01 túi ni lông màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chứa 01 lớp giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy.
Khi đi đến địa phận xóm S, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình thì bị Công an huyện Y bắt quả tang S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trên tay trái của S số ma túy đã mua trên.
Tại bản kết luận giám định số: 230/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 30/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Bùi Văn S, sinh năm 1986, trú tại xóm A, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình ngày 24/7/2021” gửi giám định có khối lượng 0,23gam (Không phẩy hai mươi ba gam) là ma túy, loại Heroine;
Vật chứng của vụ án:
Gồm 0,16 gam mẫu ma túy, loại Heroin cùng toàn bộ vỏ bao gói sau giám định được niêm phong trong 01 phòng bì MẪU GIÁM ĐỊNH MA TÚY của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình, ghi số KLGĐ 230 ngày 30/7/2021 của đối tượng Bùi Văn S được chuyển đến Chi cục thi hành án Dân sự chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSYT ngày 07/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y thực hành công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn S từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy: 0,16 gam ma túy, loại heroin thu giữ của Bùi Văn S cùng toàn bộ vỏ gói còn lại sau giám định.
Bị cáo Bùi Văn S nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố, không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa. Bị cáo nói lời sau cùng đã nhận thức được sai lầm do hành vi phạm tội của mình gây ra mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2021 do nghiện ma túy Bùi Văn S đi bộ từ nhà tới xã Đ, huyện Y mua ma túy về để sử dụng. S gặp một người thanh niên không quen biết khoảng 32 tuổi, cao khoảng 170cm, dáng người béo, có hình săm ở cổ tay, mặc áo phông màu đen, quần ngắn màu nâu, đi xe mô tô WAVE đứng một mình, S đến gần hỏi và mua được 200.000 đồng được 0,23 gam ma túy loại Heroin, mục đích tàng trữ sử dụng cho bản thân.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố bị cáo Bùi Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy do đó, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để răn đe, đồng thời phòng ngừa chung.
Trong vụ án này bị cáo Bùi Văn S không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo được hưởng chế độ gia đình thương binh, liệt sỹ của Nhà nước và có ông Bùi Văn N là Liệt sỹ và được tặng Huân trương chiến sĩ giải phóng hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được áp dụng khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo Bùi Văn S là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, bản thân là người nghiện ma túy, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo phải nộp án phí Hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn S 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (24/7/2021).
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 0,16 gam ma túy, loại heroin thu giữ của Bùi Văn S cùng toàn bộ vỏ gói còn lại sau giám định.
(Các vật chứng có đặc điểm mô tả cụ thể tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y ngày 07/9/2021).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2, điều 135, khoản 2, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc bị cáo Bùi Văn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Y; - Công an huyện Y; - THA hình sự, Dân sự huyện Y; - UBND xã L; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬSƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Hảo |