- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đăng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31 /2021/HS-ST Ngày 23/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán-"Chủ"tọa"phiên"tòa:"Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"Ông Nguyễn Đăng Thuý; ông Ngô Xuân Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thu Hường- Thư ký TAND thành phố Từ Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thuỳ Dương- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Bị cáo: Phạm Đăng D, sinh năm 1991.
Trú tại: Khu phố Đa Hội, phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đăng Sáng, sinh năm 1966 và bà Trần Thị Vân, sinh năm 1969; Có vợ là Trần Thị Nhị, sinh năm 1994; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015;
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/7/2021 đến ngày 10/7/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 45 phút ngày 07/7/2021, tại khu Tiêu Úng, phường Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an phường Đồng Kỵ kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Đăng D về hành vi cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Vật chứng thu giữ gồm:
Thu giữ của bị cáo 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng được niêm phong trong phong bì thư theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn) đã trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số: 498/KLGĐMT-PC09 ngày 09/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận:
Chất" tinh" thể" màu" trắng" bên" trong" 01" (một)" túi" nilon" màu" trắng" có" khối" lượng"0,0952"gam,"là"ma"túy,"loại"ma"túy:"Methamphetamine."
01" (một)" viên" nén" hình" tròn" màu" hồng" bên" trong" 01" (một)" túi" nilon" màu" trắng"có"khối"lượng"0,1071"gam,"là"ma"túy,"loại"ma"túy:"Methamphetamine."
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 199/CT-VKS ngày 28/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn) đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử bị cáo Phạm Đăng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2017 đến nay nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07/7/2021, bị cáo đi bộ từ nhà đến khu vực phường Đồng Kỵ để tìm mua ma túy. Tại đây, bị cáo gặp một người phụ nữ không quen biết mà qua quan sát, bị cáo nghĩ đây là người nghiện ma túy có thể có ma túy để bán cho bị cáo. Bị cáo nói với người phụ nữ này: “Bán cho em 200.000đồng tiền ma túy”, người phụ nữ đồng ý và đưa lại cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng. Bị cáo nhận túi ma túy rồi đưa cho người phụ nữ đó số tiền 200.000đồng, người đó nhận tiền rồi đi đâu không rõ. Còn bị cáo cầm ma túy đi tìm nơi sử dụng. Khi bị cáo đi đến khu Tiêu Úng, phường Đồng Kỵ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thì bị lực lượng Công an phát kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Đăng D từ 12 tháng đến 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/7/2021 đến ngày 10/7/2021. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định ma túy.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo chấp hành hình phạt xong sớm về với gia đình chăm sóc bố đẻ đang bị ung thư thực quản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hồi 09 giờ 45 phút ngày 07/7/2021, tại khu Tiêu Úng, phường Đồng Kỵ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác công an phường Đồng Kỵ, Từ Sơn, Bắc Ninh kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt quả tang Phạm Đăng D đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy Methamphetamine có khối lượng là 0,2023 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Đăng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện hút trong xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ người sử dụng, nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Liên quan trong vụ án này có người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo số ma túy trên. Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người phụ nữ đó nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Các Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Phạm Đăng D 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/7/2021 đến ngày 10/7/2021.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh (theo biên bản giao nhận vật chứng).
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: -TAND"tỉnh"Bắc"Ninh;" -"VKSND"tp."Từ"Sơn;" -"Công"an""tp."Từ"Sơn;" -"Chi"cục"THADS""tp."Từ"Sơn;" -"những"người"tham"gia"tố"tụng;" -"Lưu"HS,"VP" | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA " " " " " Nguyễn Thị Minh Huệ |