vanban.org

Bản án 31/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 18/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Phước Thiện phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Phước Thiện 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Phước T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Phước Thiện phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2021/HS-ST
Ngày: 18 - 5 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Duyên Văn Hiền

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Võ Quốc Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2021/HSST ngày 30 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Phước T, sinh ngày 15/4/1999, tại tỉnh Cà Mau.

Nơi cư trú: Khóm 1, thị t, huyện T, tỉnh C .; Chỗ ở hiện nay: Khóm 1, thị t, huyện T, tỉnh C .; nghề nghiệp: Làm biển; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Trương Phước Thành, sinh năm 1971 và bà Lê Thúy A, sinh năm 1982; anh chị em ruột: Có 01 người; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Đã được xóa án tích)

Bị bắt quả tang ngày 31/01/2021 và chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Lê Thúy A, sinh năm 1982 (Có mặt)

Nơi cư trú: Khóm 1, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 25/01/2021, Trương Phước T điện thoại cho bạn của T tên Phi (không xác định được nhân thân, lai lịch, T khai chỉ biết Phi ở đường 30/4, phường Tân Thành, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh) hỏi mua 10.000.000 đồng ma túy, gồm: 4.000.000 đồng tiền ma túy dạng Khay (ketamine), 3.000.000 đồng tiền ma túy tổng hợp, 3.000.000 đồng tiền ma túy đá thì Phi đồng ý bán ma túy cho T. Sau đó, Phi cho T số tài khoản tên Hồ Văn Tùng để T chuyển tiền mua ma túy cho Phi.

Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 29/01/2021, Phi điện thoại kêu T đến liên hệ xe dịch vụ Thắng (chạy tuyến Sông Đốc – Thành phố Hồ Chí Minh) ở bến xe khóm 7, thị trấn Sông Đốc nhận ma túy do Phi gửi về gồm: 06 viên ma túy tổng hợp màu hồng, 01 viên ma túy tổng hợp màu xám, 09 bịch ma túy đá, 03 bịch ma túy Khay (ketamine).

Sau khi nhận số ma túy trên, T lên thành phố Cà Mau chơi và sử dụng hết 01 bịch ma túy Khay (ketamine) và ½ viên ma túy tổng hợp màu hồng. Đến khoảng 08 giờ 30 ngày 30/01/2021, T về đến nhà của T tại khóm 1, thị trấn Sông Đốc, T đem tất cả số ma túy còn lại bỏ vào trong hộp màu đen có chữ “NASTY salt WARNING”, cất giấu trong túi sau bên phải quần sọt Jean màu trắng xám của T treo trên sào quần áo trước sân nhà, mục đích để sử dụng.

Khoảng 21 giờ ngày 30/01/2021, Trương Phước T có đến quán Siêu Rẻ (thuộc khóm 7, thị trấn Sông Đốc) nhậu cùng với Nguyễn Thanh Tài, Nghị và Nghĩa (không xác định được nhân thân lai lịch). Sau đó, Thiện về nhà lấy 5,5 viên ma túy tổng hợp màu hồng, 02 bịch ma túy khay (katemine) bỏ vào hộp nhựa màu trắng, 01 viên ma túy tổng hợp màu xám bỏ vào túi áo bên trái, Thiện đi ra sân trên tay cầm thêm 02 bịch ma túy đá chuẩn bị bỏ vào túi, mục đích khi đi hát karaoke sẽ sử dụng thì thấy lực lượng Công an thị trấn Sông Đốc đi đến, Thiện ném 02 bịch ma túy đang cầm trên tay xuống kênh trước nhà. Công an thị trấn Sông Đốc phát hiện thu giữ được 02 bịch ma túy đá T vừa ném; kiểm tra trong túi áo bên trái T mặc trên người phát hiện 5,5 viên nén hình tròn dạng răng cưa màu hồng, 02 bịch nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng dạng rắn đựng trong hộp nhựa màu trắng và 01 viên nén màu xám được để trong bịch nilon; kiểm tra túi quần T đang mặc thu giữ một điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A51 màu xanh ngọc, bên trong có sim số 0941.150.499 và một bóp da màu đen bên trong có số tiền 12.450.000 đồng; kiểm tra trên sào quần áo trước nhà của T phát hiện trong túi quần sọt Jean màu trắng xám có chữ “Adidas” của T có một hộp nhựa tròn màu đen có chữ “NASTY salt WARNING” bên trong có chứa 07 bịch nilon màu trắng có chứa chất tinh thể rắn màu trắng. T khai nhận tất cả số ma túy này là của T cất giữ để sử dụng.

Công an thị trấn Sông Đốc lập biên bản phạm tội quả tang đối với Trương Phước T lúc 00 giờ 10 phút ngày 31/01/2021 và tiến hành niêm phong, thu giữ các vật chứng nêu trên. (Bút lục 02 - 05).

Vật chứng thu giữ: 01 cân tiểu ly màu đen (không nhãn hiệu); 01 cân tiểu ly màu đen, hiệu Pocket Scale; 01 cân tiểu ly màu đen, hiệu Batteries; 01 bình gas màu trắng (không nhãn hiệu) có gắn đầu khò; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, dài 13,5cm; 74 bịch nilon màu trắng kích thước 2cm x 2,5cm; 78 bịch nilon màu trắng có viền màu xanh, kích thước 3cm x 4cm; 01 quẹt gas hiệu VGT 186 có gắn ống kim loại màu trắng; 10 thanh kim loại dài 18 cm, một đầu có bao nhựa màu đỏ; 304 bịch nilon màu trắng có viền màu đỏ, kích thước 4cm x 7cm; 04 bịch nilon màu trắng, kích thước 30cm x 20cm; 25 ống thủy tinh màu trắng dài 19,5cm; 01 nỏ thủy tinh màu trắng.

Kết luận giám định số 50/GĐMT-PC09 ngày 02 tháng 02 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận:

Tinh thể màu trắng bên trong 02 bọc nilon màu trắng (của T ném xuống kênh) (ký hiệu M1) là ma túy có tổng khối lượng 0,5515 gam, loại Methamphetamine.

5,5 viên nén màu hồng hình tròn dạng răng cưa (thu giữ trong túi áo của T) (ký hiệu M2) là ma túy có tổng khối lượng 2,0401gam, loại Methamphetamine và MDMA.

Tinh thể màu trắng bên trong 02 bọc nilon màu trắng (thu giữ trong túi áo T) (ký hiệu M2) là ma túy có tổng khối lượng là 0,7317gam, loại Ketamine.

01 viên nén hình tròn màu xám (thu giữ trong túi áo của T) (ký hiệu M3) là ma túy, có khối lượng 0,3621 gam, loại Methamphetamine và MDMA.

07 bịch nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (thu giữ trong túi quần sọt Jean màu xám trắng treo trên sào phơi quần áo) (ký hiệu M4) là ma túy, có tổng khối lượng 1,5820 gam, loại Methamphetamine và Ketamine. (Bút lục 46 - 47).

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 29 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời đã truy tố Trương Phước T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Trương Phước T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Phước T từ 03 đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận vào ngày 31/01/2021, tại khóm 1, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, Trương Phước T đã cất giấu trái phép chất ma túy gồm: 0,5515 gam loại Methamphetamine; 2,4022 loại Methamphetamine và MDMA; 1,5820 gam loại Methamphetamine và Ketamine; 0,7317gam loại Ketamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị trấn Sông Đốc phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo Trương Phước T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo Thiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Thiện về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo T không chỉ ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương mà còn gây hoang mang trong quần chúng nhân dân vì ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, biết được tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 18 tháng tù tại Bản án số 22/2017/HSST ngày 25/4/2017 (đã được xóa án tích) nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo lại tiếp tục vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử xét thấy, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với người tên Phi địa chỉ đường 30/4, phường Tân Thành, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh mà T khai đã chuyển tiền 10.000.000 đồng mua ma túy của Phi qua tài khoản tên Hồ Văn Tùng. Quá trình điều tra xác minh đến nay, chưa làm việc được với đối tượng tên Phi và chủ tài khoản tên Hồ Văn Tùng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Văn Thời tách ra để tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với việc Trương Phước T khai ma túy được gửi xe dịch vụ Thắng đem về cho T, quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh nhân viên xe dịch vụ Thắng vận chuyển trái phép chất ma túy để giao cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Trần Văn Thời không xử lý là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án được xử lý như sau:

- Đối với ma túy đựng trong 01 phong bì được niêm phong (Số 50/GĐMT-PC09 ngày 02/02/2021) là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 cân tiểu ly màu đen (không nhãn hiệu); 01 cân tiểu ly màu đen, hiệu Pocket Scale; 01 cân tiểu ly màu đen, hiệu Batteries; 01 bình gas màu trắng (không nhãn hiệu) có gắn đầu khò; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, dài 13,5cm; 74 bịch nilon màu trắng kích thước 2cm x 2,5cm; 78 bịch nilon màu trắng có viền màu xanh, kích thước 3cm x 4cm; 01 quẹt gas hiệu VGT 186 có gắn ống kim loại màu trắng; 10 thanh kim loại dài 18 cm, một đầu có bao nhựa màu đỏ; 304 bịch nilon màu trắng có viền màu đỏ, kích thước 4cm x 7cm; 04 bịch nilon màu trắng, kích thước 30cm x 20cm; 25 ống thủy tinh màu trắng dài 19,5cm; 01 nỏ thủy tinh màu trắng; 01 hộp nhựa màu trắng kích cỡ 3,5cm x 8cm; 01 hộp nhựa màu đen có chữ NATY Salt WARNING, kích thước 3,5cm x 9cm; 01 quần sort Jean màu xám có chữ Adidas, hiện nay không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Trả lại cho bà Lê Thúy A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màu xanh ngọc, số seri R58N34K4PTY, bên trong có một sim số 0944.150.499 do đây là tài sản của bà Lê Thúy A, bị cáo mượn sử dụng.

- Quá trình điều tra, xác minh xác định có 10.150.000 đồng là tiền của bà Lê Thúy A mà Thiện giữ hộ, không liên quan đến hành vi phạm tội của Thiện nên trả lại cho bà Lê Thúy A 10.150.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo: 01 bóp da màu đen và số tiền 2.300.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trương Phước Thiện phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trương Phước Thiện 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2021.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy những vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì được niêm phong (Số 50/GĐMT-PC09 ngày 02/02/2021); 01 cân tiểu ly màu đen (không nhãn hiệu); 01 cân tiểu ly màu đen, hiệu Pocket Scale; 01 cân tiểu ly màu đen, hiệu Batteries; 01 bình gas màu trắng (không nhãn hiệu) có gắn đầu khò; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, dài 13,5cm; 74 bịch nilon màu trắng kích thước 2cm x 2,5cm; 78 bịch nilon màu trắng có viền màu xanh, kích thước 3cm x 4cm; 01 quẹt gas hiệu VGT 186 có gắn ống kim loại màu trắng; 10 thanh kim loại dài 18 cm, một đầu có bao nhựa màu đỏ; 304 bịch nilon màu trắng có viền màu đỏ, kích thước 4cm x 7cm; 04 bịch nilon màu trắng, kích thước 30cm x 20cm; 25 ống thủy tinh màu trắng dài 19,5cm; 01 nỏ thủy tinh màu trắng; 01 hộp nhựa màu trắng kích cỡ 3,5cm x 8cm; 01 hộp nhựa màu đen có chữ NATY Salt WARNING, kích thước 3,5cm x 9cm; 01 quần sort Jean màu xám có chữ Adidas.

- Trả lại cho bà Lê Thúy A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màu xanh ngọc, số seri R58N34K4PTY, bên trong có một sim số 0944.150.499 và số tiền 10.150.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo: 01 bóp da màu đen và số tiền 2.300.000 đồng.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, tình trạng đặc điểm vật chứng được ghi theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/3/2021 giữa bên giao là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau bên nhận là Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau).

4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trương Phước T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Duyên Văn Hiền - Nguyễn Huỳnh Hưỡng

Hồ Yến Phương

Cỡ chữ