- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH NINH THUẬN __________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2021/HS-ST Ngày: 14/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thái.
Ông Não Thiên Minh Trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 32/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
ĐẶNG VĂN T, sinh năm: 1999 tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L 3, xã D, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn D và bà Mai Thị Th; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bắt ngày 28/7/2021, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lâm Thế Ngh, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận bào chữa cho Đặng Văn T. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1998; nơi cư trú: Thôn L 2, xã D, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt)
2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1994; nơi cư trú: Thôn L 1, xã D, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Lương Thiện T, sinh năm: 2001; nơi cư trú: Thôn L 3, xã D, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Văn T có quan hệ bạn bè với Nguyễn Văn L, sinh ngày 30/3/1998, Nguyễn Văn T, sinh ngày 07/7/1994, Lương Thiện T, sinh ngày 11/03/2001, cùng trú tại xã D, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Khoảng 11 giờ ngày 27/7/2021, T gọi điện cho bạn tên H ở xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận (chưa rõ lai lịch) hỏi xin ma túy đá để sử dụng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H mang ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến nhà T ở thôn L 3, xã D, cùng sử dụng ma túy với T. Sau đó, H hỏi T có lấy ma túy để bán không, T đồng ý, H bán cho T 01 bịch nylon màu trắng kích thước (03 x 5,5)cm, bên trong có chứa ma túy đá với giá 400.000 đồng và để lại cho T 01 bịch nylon màu đen bên trong có 01cân tiểu ly, các bịch nylon để chia nhỏ ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy đá. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn L gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy đá, T đồng ý bán, đến khoảng 19 giờ cùng ngày, L đến nhà T mua ma túy, T trích một phần ma túy (trong bịch ma túy đã mua của H) bán cho L với giá 200.000 đồng (L chưa đưa tiền).
Khoảng 17 giờ ngày 28/7/2021, T gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn T, Lương Thiện T đến nhà T sử dụng ma túy đá, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm nỏ thủy tinh, ống hút nhựa màu tím, chai nhựa hiệu Sting, quẹt ga, lấy một ít ma túy đá từ tép ma túy mua của H bỏ vào nỏ, hàn kín số ma túy còn lại trong túi nylon màu trắng, lấy quẹt ga đốt vào nỏ thủy tinh để ma túy tan chảy rồi cả ba cùng sử dụng tại phòng ngủ của T. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn L hỏi mượn xe máy, L điều khiển xe đến trả cho T 200.000 đồng mua ma túy vào ngày 27/7/2021, T nói L vào phòng để sử dụng ma túy đá với T, T còn T điều khiển xe đi nhậu. Khoảng 21 giờ 30 phút, T về lại nhà gặp L, T, T đang ngồi chơi, khoảng 10 phút sau, Công an xã D kiểm tra, phát hiện, thu giữ 01 chai nhựa hiệu sting có gắn nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy đá, 01 bịch nylon màu trắng kích thước (03 x 5,5)cm chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.
Ngày 29 tháng 7 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu giám định chất nghi là ma túy đã thu giữ được trong lúc bắt quả tang và trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Kết luận giám định số 138/KLGĐ-PC09, ngày 03 tháng 8 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận: “Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nylon màu trắng kích thước (3x,5,5)cm (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methemphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là 1,7145g. Chất rắn màu trắng ngà bên trong 01 nỏ thủy tinh (ký hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định ký hiệu M2 là: 0,0220g. Khối lượng mẫu vật còn lại sau giám định: M1: 1,5721g. M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định; hoàn trả nỏ và bao gói gửi đến giám định”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Đặng Văn T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T, Lương Thiện T kết quả xét nghiệm: Trong nước tiểu của T, L, T, T có chứa thành phần Methamphetamine. Kết luận: Dương tính với chất ma túy.
Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKSTN ngày 25 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Hành vi của của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và mức án từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn T trình bày lời bào chữa: Đồng ý với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Do bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 54 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một mức án dưới khung hình phạt.
Lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn T đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Ngày 27/7/2021 tại thôn L 3, xã D, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Bị cáo có bán cho Nguyễn Văn L 01 (Một) tép ma túy loại Methamphetamine, với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Tiếp đến ngày 28/7/2021 bị cáo rủ Nguyễn Văn T, Lương Thiện T, Nguyễn Văn L đến nhà của mình ở thôn L 3, xã D, huyện T, tỉnh Ninh Thuận làm địa điểm, cung cấp ma túy và dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an xã D bắt quả tang bị cáo tàng trữ trái phép 1,7145g chất ma túy, loại Methemphetamine (Theo Kết luận giám định số 138/KLGĐ-PC09, ngày 03 tháng 8 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận) để bán cho người khác.
Xét thấy hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma túy, ngoài ra còn gián tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn T đưa ra thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để bào chữa cho bị cáo là hoàn toàn không có cơ sở để chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình nộp số tiền phạm tội mà có. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt và chưa có tiền án, tiền sự.
Qua xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, rèn luyện bản thân mình thành người tốt sau này là phù hợp với quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chai nhựa nhãn hiệu STING gắn ống hút màu tím dài 20cm; 01 (Một) quẹt ga màu vàng bị gãy mất bộ phận đánh lửa; 01 (Một) bịch nylon màu đen kích thước (25 x 37cm) bên trong có: 01 (Một) cân tiểu ly màu đen kích thước (08 x 12,5)cm, tình trạng sử dụng tốt; 01 (Một) bịch nylon màu trắng kích thước (06 x 09)cm bên trong có 02 (Hai) mảnh nylon kích thước (04 x 03)cm; 01 (Một) ống nhựa màu trắng đường kính 0,6cm, dài 05cm; 01 (Một) ống nhựa màu trắng đường kính 0,6cm dài 5,5cm, một đầu nhọn; 01 (Một) bịch nylon kích thước (1,2 x 4,7)cm; 01 (Một) phong bì thư dán kín có chữ ký niêm phong của Nguyễn Nghi A, Hoàng Văn H, Trần Huy H, Lê Ngọc Th, đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận bên trong có những mẫu vật còn lại sau giám định: 01 (Một) túi nylon màu trắng kích thước (3 x 5,5)cm chứa chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,5721 gam; 01 (Một) nỏ thủy tinh có gắn ống nhựa màu tím dài 11,5cm, phần nỏ dài 5,5cm, phần nỏ và ống tạo thành góc 45o.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO A15 màu xanh đen có số IMEI 1: 869868050447630, số IMEI 2: 86986805447622, không gắn thẻ sim.
- Buộc bị cáo Đặng Văn T nộp 200.000 đồng là tiền do phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị tịch thu tiêu hủy và tịch thu sung ngân sách Nhà nước vật chứng và số tiền trên là phù với quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hiện nay anh Đặng Văn D là cha của bị cáo Đặng Văn T đã nộp thay cho bị cáo số tiền 200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T để sung vào ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, anh Đặng Văn D không yêu cầu bị cáo Đặng Văn T trả lại số tiền 200.000 đồng trên. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tiến hành trả lại cho Nguyễn Văn T 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, màn hình cảm ứng có gắn sim số 0369999419; trả lại cho Nguyễn Văn L 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, màn hình cảm ứng có gắn sim số 0325592416 là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.
Đối với người tên H đã bán ma túy cho bị cáo Đặng Văn T, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã xác minh tại huyện T, tỉnh Bình Thuận có người tên Phạm Doãn Phương A, sinh ngày 01/3/1985, trú tại xóm 5, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận, tên thường gọi là H. Tuy nhiên, A không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai của bị cáo T không có chứng cứ khác chứng minh hành vi phạm tội của A, chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự nên tách để tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo (Có đơn xin miễn án phí) nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 02 (Hai) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (Bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đặng Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 09 (Chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/7/2021.
- Căn cứ Điều 46 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chai nhựa nhãn hiệu STING gắn ống hút màu tím dài 20cm; 01 (Một) quẹt ga màu vàng bị gãy mất bộ phận đánh lửa; 01 (Một) bịch nylon màu đen kích thước (25 x 37cm) bên trong có: 01 (Một) cân tiểu ly màu đen kích thước (08 x 12,5)cm, tình trạng sử dụng tốt; 01 (Một) bịch nylon màu trắng kích thước (06 x 09)cm bên trong có 02 (Hai) mảnh nylon kích thước (04 x 03)cm; 01 (Một) ống nhựa màu trắng đường kính 0,6cm, dài 05cm; 01 (Một) ống nhựa màu trắng đường kính 0,6cm dài 5,5cm, một đầu nhọn; 01 (Một) bịch nylon kích thước (1,2 x 4,7)cm; 01 (Một) phong bì thư dán kín có chữ ký niêm phong của Nguyễn Nghi A, Hoàng Văn H, Trần Huy H, Lê Ngọc Th, đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận bên trong có những mẫu vật còn lại sau giám định: 01 (Một) túi nylon màu trắng kích thước (3 x 5,5)cm chứa chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,5721 gam; 01 (Một) nỏ thủy tinh có gắn ống nhựa màu tím dài 11,5cm, phần nỏ dài 5,5cm, phần nỏ và ống tạo thành góc 45o.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO A15 màu xanh đen có số IMEI 1: 869868050447630, số IMEI 2: 86986805447622, không gắn thẻ sim.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/8/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).
Buộc bị cáo Đặng Văn T nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) do anh Đặng Văn D là cha bị cáo Đặng Văn T đã nộp thay tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai thu tiền số 0003341 ngày 07 tháng 9 năm 2021 để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đặng Văn T.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 14/9/2021). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện T; - Cơ quan điều tra CA huyện T; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Nhà tạm giữ CA huyện T; - CC T.H.A dân sự huyện T; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Bị cáo, người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ, tập bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Tiến |