vanban.org

Bản án 31/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/12/2020). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA
__________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2021/HS-ST
Ngày 02 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ông Đinh Công Ó.

2. bà Đinh Thị Minh Thúy.

- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Ngoãn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên tham gia phiên toà: ông Tạ Hữu Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2021/TLST – HS, ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST – HS, ngày 19 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo: Lò Văn T (tên gọi khác: không), sinh ngày 04 tháng 3 năm 1993 tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: bản N, xã H, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Lò Văn G, sinh năm 1965 và con bà Hà Hải Y, sinh năm 1970. Có vợ là Đinh Thị Đ (đã ly hôn) và có một con sinh năm 2014. Tiền án: Tại bản án số 83/2017/HSST, ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tiền sự: Tại quyết định số 31/QĐ – TA, ngày 24/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2020 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 25 phút ngày 15/12/2020, tổ công tác Công an thị trấn Phù Yên làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu X, thị trấn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã phát hiện và bắt quả tang Lò Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý (T khai nhận số ma túy này là của một người đàn ông tên T đưa cho T để nhằm mục đích đi bán kiếm lời).

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (Một) bao thuốc là Thăng Long bên trong có gói chất bột màu trắng dạng cục nghi ma túy, bên ngoài được gói bằng một lớp giấy báo, bên trong là chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy heroine; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel máy đã cũ qua sử dụng;

Ngày 23/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Phù Yên đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định vật chứng, kết quả:

- Bóc mở phòng bì đựng vật chứng, bên trong phong bì có 01 bao thuốc lá Thăng Long, bên trong bao thuốc lá có 01 gói, lớp ngoài cùng gói bằng giấy báo, bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy có khối lượng được cân tịnh là 0,272 gam, lấy toàn bộ 0,272 gam làm mẫu gửi giám định, cho vào 01 túi ni lon, ký hiệu T1.

Tại kết luận giám định số 31, ngày 18/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định kí hiệu T1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,272 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,272 gam; loại Heroine. Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu T1, không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng là 0,16 gam”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 25 phút ngày 15/12/2020, bị cáo nhận được cuộc gọi điện thoại di động từ số thuê bao 0393.654.010 của một người đàn ông tên là T ở bản S, xã H, huyện Phù Yên rủ đến nhà ăn cơm, bị cáo nhận lời và người tên T đến đón bị cáo vào nhà, ăn cơm xong thì T lấy ma túy ra mời T cùng sử dụng, sau khi sử dụng ma túy xong, T rủ T cùng mang ma túy đi bán kiếm lời và hứa mỗi ngày sẽ cho bị cáo sử dụng ma túy hai lần, do bản thân là người nghiện ma túy và cần có ma túy để sử dụng hàng ngày nên bị cáo đã đồng ý mang ma túy của người đàn ông tên T đi bán, đến khu vực tiểu khu X, thị trấn Phù Yên thì T cho bị cáo T một bao thuốc lá Thăng Long, bên trong đựng một gói ma túy để bị cáo mang đi bán, bị cáo đang cầm ma túy đi vào trong ngõ tại tiểu khu X, thị trấn

2 Phù Yên để đợi người mua thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Về nguồn gốc số ma túy: bị cáo T khai nhận là do của một người đàn ông tên là T, trú tại bản I , xã H, huyện Phù Yên đưa cho đi bán kiếm lời. Cơ quan điều tra công an huyện Phù Yên đã tiến hành điều tra, xác minh tại bản S, xã H, huyện Phù Yên không có người đàn ông tên là T có đặc điểm như bị cáo T khai nhận. Đối với số điện thoại 0393.654.010 mà người đàn ông tên T sử dụng để gọi cho bị cáo, qua kiểm tra xác minh số thuê bao điện thoại trên không đăng ký thuê bao chính chủ, do vậy không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 11/CT - VKS, ngày 03/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La truy tố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015:

- Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 36 (Ba mươi sáu) đến 48 (Bốn mươi tám) tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi 01 phong bì bóc mở ban đầu + 01 mảnh giấy báo + 01 bao thuốc lá màu vàng và 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi 01 phong bì mẫu giám định ký hiệu T1 có khối lượng 0,16 gam.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu tím than trong có 01 sim của Lò Văn T (đựng trong 01 phong bì niêm phong).

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T thành khẩn nhận tội, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt với mức thấp nhất

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Ngày 15/12/2020, Lò Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,272 gam heroine với mục đích để bán cho người khác thì bị phát hiện, bắt quả tang tại tiểu khu X, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội cũng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

- Lời khai nhận tội của bị cáo; Các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu.

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 20 phút ngày 15/12/2020 tại tiểu khu X, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên đối với Lò Văn T cùng vật chứng thu giữ là một gói chứa chất bột màu trắng là heroine và 01 chiếc điện thoại di động đã cũ qua sử dụng.

- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 31, ngày 18/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La;

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Văn Thường, sinh năm 1959, trú tại tiểu khu X, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.

Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Lò Văn T cầm ma túy trong người nhằm mục đích đi bán để kiếm lời, đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng chất ma túy khi bắt quả tang là 0,272 gam heroine, đã vi phạm hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an

4 ninh xã hội tại địa phương, bị cáo là người có đủ nhận thức về hành vi của mình và phạm tội với lỗi cố ý, biết rõ tác hại của ma túy bị pháp luật và xã hội nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, không chịu khó lao động cải tạo, rèn luyện tu dưỡng bản thân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án: Tại bản án số 83/2017/HSST, ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đến ngày phạm tội lần này vẫn chưa hết thời hạn được coi là xóa án tích bị cáo lại tiếp tục phạm tội, là tình tiết tái phạm và có một tiền sự: tại quyết định số 31/QĐ – TA, ngày 24/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính bị cáo vẫn thường xuyên, tiếp tục sử dụng chất ma túy, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đáng lẽ ra sau lần đi chấp hành án phạt tù và đi điều trị nghiện bị cáo phải rút ra bài học để sửa chữa, khắc phục khuyết điểm của mình nhưng bị cáo lại cố tình vi phạm, do đó cần nghiêm khắc xét xử đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Đối với 0,16 gam heroine còn lại là chất ma túy bị pháp luật Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ và phong bì niêm phong khi bắt quả tang + mảnh giấy báo và bao thuốc lá màu vàng là vật không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel máy đã cũ qua sử dụng, xác định là tài sản của bị cáo T, được dùng vào việc liên lạc với người tên T, tuy nhiên trong quá trình trao đổi để đi bán ma túy giữa bị cáo T và T không

5 sử dụng điện thoại mà trao đổi trực tiếp với nhau do đó không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.

Đối với người đàn ông tên T ở bản S, xã H, huyện Phù Yên, qua điều tra không có căn cứ xác định tại bản S, xã H, huyện Phù Yên có người đàn ông tên là T có đặc điểm như bị cáo khai báo. Đối với số điện thoại 0393.654.010 đã liên lạc với bị cáo, qua điều tra, xác minh không xác định được danh tính của chủ số thuê bao của người gọi điện đến bàn bạc, trao đổi và đưa ma túy cho bị cáo đi bán, ngoài lời khai của bị cáo ra không còn căn cứ nào để điều tra, mở rộng vụ án do đó cần buộc bị cáo T phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về số ma túy bị bắt quả tang khi nhằm mục đích để đi bán kiếm lời.

Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/12/2020).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong mặt trước ghi 01 (Một) phong bì bóc mở ban đầu + 01 (Một) mảnh giấy báo + 01 (Một) bao thuốc lá màu vàng và 01 (Một) phong bì niêm phong mặt trước ghi 01 (Một) phong bì mẫu giám định ký hiệu T1 có khối lượng 0,16 gam.

- Trả lại cho bị cáo Lò Văn T 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu tím than trong có 01 sim của Lò Văn T (đựng trong 01 phong bì niêm phong).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 30/BB – GNVC, ngày 05/02/2021 giữa Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6

Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/03/2021)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ