vanban.org

Bản án 31/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 24/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Tiến V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Tiến V 15 (mười lăm) tháng tù giam. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hoàng tiến v - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Tiến V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2021/HS-ST
Ngày 24-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Việt.

Bà Hoàng Thị Thiều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lệ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Hoàng Tiến V, sinh ngày 04 tháng 9 năm 1978 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C và bà Vi Thị T; vợ Lường Thị T và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2021 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Tiến V là người nghiện ma túy Heroine từ đầu năm 2021 đến nay, để có ma túy sử dụng Hoàng Tiến V thường xuống khu vực ngã tư thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên mua ma túy với những người không quen biết để sử dụng cho bản thân. Khoảng 10 giờ 30 ngày 25/6/2021 Hoàng Tiến V một mình đi xe ô tô khách từ thôn V, xã V, huyện B xuống khu vực ngã tư Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì Hoàng Tiến V tìm mua được với một người đàn ông không quen biết 03 (ba) gói ma túy Heroine với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng); sau đó Hoàng Tiến V cất số ma túy Heroine vừa mua được vào túi quần trước bên phải đang mặc rồi ngồi chơi tại ngã tư Đ, huyện V đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì đi xe ô tô khách về thôn V, xã V, huyện B sau đó tiếp tục đi xe ôm về đến Thôn T, xã T, huyện B thì xuống xe đi bộ về nhà. Khi Hoàng Tiến V đi bộ đến gần trụ sở Công an xã Tân Thành thuộc thôn T thì bị lực lượng Công an xã T bắt quả tang.

Ngày 26/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 62 đối với vật chứng thu giữ của Hoàng Tiến V. Tại Bản kết luận giám định số 247/KL-PC09 ngày 27/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,119 gam (đã trừ bì)”.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKSBS –BS ngày 07/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Tiến V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Tiến V khai nhận, bản thân nghiện ma túy từ lâu, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Cáo trạng truy tố ra trước Tòa là đúng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Tiến V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Tiến V từ 15 tháng đến 18 tháng tù giam, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì thư dán kín, mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay “Tang vật thu giữ trên người Hoàng Tiến V”, 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, chữ ký cùng tên của Hoàng Mạnh Hà, Bùi Anh T. Mặt sau tại phần dán niêm phong có 05 hình dấu tròn đỏ của Công an xã T, chữ ký và dấu chức danh Trưởng Công an xã, dấu tên Trung úy Dương Công S, chữ ký cùng tên của Nguyễn Văn N, Hoàng Tiến V, Dương Thời B. Bên trong phong bì có: 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,095 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói cũ.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo xin đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà bị cáo Hoàng Tiến V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng và cũng phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Do có nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, ngày 25/6/2021, Hoàng Tiến V bắt xe xuống khu vực ngã tư thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên tìm mua 03 gói ma túy Heroine với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) với một người đàn ông không quen biết. Trên đường về nhà đến khu vực Thôn T, xã T, huyện B thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ của Hoàng Tiến V 03 gói giất bên trong có chứa chất ma túy Heroine.

Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang của Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và kết quả giám định vật chứng thu giữ của bị cáo, đó là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,119 gam (đã trừ bì). Do đó có căn cứ xác định bị cáo Hoàng Tiến V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo hoàn toàn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng hành vi bị cáo thực hiện đi mua ma túy về tàng trữ nhằm để sử dụng cho mục đích cá nhân là hành vi nguy hiểm và nghiêm trọng. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy, mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, sản xuất, mua bán đều vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo thực hiện là lỗi cố ý, coi thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bố bị cáo là Hoàng Văn C được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án tiền sự và nhận thức được việc làm của mình mà pháp luật hình sự nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có tài sản và thu nhập ổn định theo biên bản xác minh ngày 06/8/2021 của Cơ quan điều tra Công an huyện B nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín, mặt trước phong bì có dòng chữ “Tang vật thu giữ trên người Hoàng Tiến V”, 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, chữ ký cùng tên của Hoàng Mạnh H, Bùi Anh T. Mặt sau tại phần dán niêm phong có 05 hình dấu trong đỏ của Công an xã T, chữ ký và dấu chức danh của Trưởng công an xã, dấu tên Trung úy Dương Công S, chữ ký cùng tên của Nguyễn Văn N, Hoàng Tiến V, Dương Thời B. Bên trong phong bì có 01 gói giấy đựng tổng cộng 0,095 gam Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói cũ.

Căn cứ theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Tiến V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 262; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Tiến V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Tiến V 15 (mười lăm) tháng tù giam. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín, mặt trước phong bì có dòng chữ “Tang vật thu giữ trên người Hoàng Tiến V”, 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, chữ ký cùng tên của Hoàng Mạnh H, Bùi Anh T. Mặt sau tại phần dán niêm phong có 05 hình dấu trong đỏ của Công an xã T, chữ ký và dấu chức danh của Trưởng công an xã, dấu tên Trung úy Dương Công S, chữ ký cùng tên của Nguyễn Văn N, Hoàng Tiến V, Dương Thời B. Bên trong phong bì có 01 gói giấy đựng tổng cộng 0,095 gam Heroine (phần hao hụt do làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói cũ.

Những vật chứng, tài sản trên được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện B ngày 07 tháng 9 năm 2021.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Tiến V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ