vanban.org

Bản án 31/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/7/2021.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 3,28 gam Heroine được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng KTHS - Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt bì niêm phong có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc T - Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/7/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2021/HS-ST
Ngày 30-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bình

Ông Trần Duy Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Hoàng Ngọc T (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 14/7/1991 tại huyện B, tỉnh Lào Cai

Nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Viết T, sinh năm 1953 (đã chết) và con bà: Hoàng Thị S, sinh năm 1955 hiện trú tại Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có vợ: Phan Thị H sinh năm 1987, hiện trú tại Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/7/2021, tạm giam từ ngày 17/7/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người làm chứng: Bạch Ngọc L, Hoàng Thanh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 08/7/2021, tại thôn B, xã Y, Công an huyện Bảo Yên tiến hành kiểm tra Hoàng Ngọc T, khi bị kiểm tra Hoàng Ngọc T đã tự giác lấy trong quần sịp đang mặc 01 gói nilon màu xanh buộc nút thắt bên trong là chất bột khô vón cục màu trắng, bị cáo khai là Heroine. Tại cơ quan điều tra Hoàng Ngọc T khai nhận, khoảng 09 giờ cùng ngày bị cáo đi xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 24B1-569.59 từ huyện B sang xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai tìm mua ma tuý về sử dụng và bán kiếm lời. Khi sang xã M bị cáo đến nhà của chị Hoàng Thị H (sinh năm 1990, địa chỉ: thôn 3 M, xã M, huyện V), bị cáo nói với chị H "Đi lấy hộ em với", chị H hiểu ý bị cáo muốn mua ma tuý nên đã hỏi "lấy bao nhiêu", bị cáo trả lời "lấy hộ em 2.400.000đ". H đồng ý và điều khiển xe đi lấy ma tuý, khoảng 15 phút sau H quay lại và đưa cho bị cáo 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa ma tuý. Bị cáo cầm ma tuý cho vào trong quần sịp đang mặc và đưa cho H 2.400.000đ sau đó điều khiển xe đi về nhà. Khi về đến địa phận thôn B, xã Y thị bị Công an bắt quả tang.

Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, Hoàng Ngọc T tự giác khai nhận: Trước đó bị cáo còn mua ma tuý của một người phụ nữ tên là H1 chồng tên là K, nhà ở gần khu ga thị trấn P, huyện B, số ma tuý này bị cáo đã bán cho 02 người nghiện ma tuý là Hoàng Thanh S (sinh năm 1994, địa chỉ: Tổ 8 TT P, huyện B) và Bạch Ngọc L (sinh năm 1984, địa chỉ: Tổ 6A thị trấn P, huyện B). Cụ thể: Ngày 04/7/2021, tại khu vực đường Tổng Gia xã Y, huyện B bị cáo đã bán cho Bạch Ngọc L 01 gói nhỏ ma tuý với giá 100.000đ. Ngày 06/7/2021 tại đường Quốc lộ 70 thuộc địa phận khu 8 TT P, huyện B bị cáo đã bán cho Hoàng Thanh S một gói nhỏ ma tuý với giá 200.000đ. Ngày 07/7/2021 cũng tại địa điểm trên bị cáo tiếp tục bán cho S một gói nhỏ ma tuý với giá 200.000đ. Đối với Hoàng Thanh S và Bạch Ngọc L đã có lời khai thừa nhận việc mua mua tuý của Hoàng Ngọc T như lời trình bày của bị cáo là đúng sự thật.

Tại kết luận giám định số 180/GĐTM ngày 10/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 3,67 gam chất bột khô vón cục, màu trắng thu giữ của Hoàng Ngọc T là ma tuý Heroine. Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 14/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Hoàng Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không đề nghị gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T từ 07 năm đến 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định, truy thu số tiền bị cáo thu lời bất chính 500.000đ để tịch thu sung quỹ nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hoàng Ngọc T khai nhận ngày 08/7/2021 bị cáo đã đi mua 3,67 gam ma tuý mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Bị cáo cũng khai nhận ngày 04/7/2021 bị cáo đã bán 01 gói nhỏ ma tuý cho Bạch Ngọc Lưu với giá 100.000đ, ngày 06 và 07/7/2021 đã hai lần bán ma tuý cho Hoàng Thanh Sơn thu được 400.000đ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Bị cáo Hoàng Ngọc T là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật song bị cáo lười lao động, sa vào nghiện hút ma tuý và đã có hành vi bán trái phép chất ma tuý để kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương và thể hiện sự coi thường pháp luật, vì vậy cần phải có một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi bị bắt giữ đã tự giác khai nhận hành vi bán ma tuý cho Bạch Ngọc L và Hoàng Thanh S nên việc tự khai nhận của bị cáo là tự thú. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là người có công được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến, mẹ đẻ là người được hưởng chế độ dân công hoả tuyến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Các vấn đề có liên quan trong vụ án: Liên quan tới vụ án có người phụ nữ tên là Hoàng Thị H (sinh năm 1990, trú tại Thôn 3 M, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai) theo bị cáo khai là người đã bán ma tuý cho bị cáo. Quá trình điều tra chị H không thừa nhận bán ma tuý cho bị cáo, ngoài ra không có tài liệu chứng cứ nào khác xác định việc mua bán ma tuý giữa bị cáo và chị H nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý, xét thấy là đúng pháp luật. Đối với Bạch Ngọc L và Hoàng Thanh S là người đã mua ma tuý của bị cáo, cơ quan điều tra đã xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền là đúng pháp lụât.

Bị cáo còn khai trước đó đã mua ma tuý của người phụ nữ tên là H1 chồng tên là K tại khu vực ga thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra không xác định được tên tuổi địa chỉ của người này nên không đủ căn cứ để xử lý.

. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 3,67 gam ma tuý Heroine, cơ quan giám định đã sử dụng 0,39 gam hoàn lại 3,28 gam. Xét thấy đây là vật chứng thuộc diện cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền bán ma tuý cho Hoàng Thanh S và Bạch Ngọc L bị cáo thu được 500.000đ đã tiêu xài cá nhân hết nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 24B1-569.59. Quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu của anh Hoàng Văn T là anh trai bị cáo, ngày 08/7/2021 anh T cho bị cáo mượn xe nhưng không biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma tuý nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T là đúng quy định của pháp luật.

. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và mức hình phạt đề nghị là phù hợp. Tại phiên tòa bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo Hoàng Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/7/2021.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 3,28 gam Heroine được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng KTHS - Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt bì niêm phong có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Hoàng Ngọc T ngày 08/7/2021 tại thôn Bát, xã Yên Sơn, huyện Bảo Yên”.

Truy thu của bị cáo số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ