- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Huỷ bản án sơ thẩm số 28/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, chuyển hồ sơ cho Toà án c p sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2021/DS-PT Ngày: 16-4-2021 V v: Tranh ch p quyền sử dụng đ t |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Các Thẩm phán:
Bà Mai Thị Minh Hồng
Ông Lại Văn Tùng
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Ngọc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2020/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2020 về tranh ch p quyền sử dụng đ t. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 37/2021 QĐ-PT ngày 08 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T; sinh năm 1930; cư trú tại: Thôn 2, xã T, huyện T, tỉnh N.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L; sinh năm 1976; cư trú tại: Thôn 3, xã T, huyện T, tỉnh N (Theo văn bản uỷ quyền ngày 09-4-2021).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M; sinh năm 1955; cư trú tại: Thôn 2, xã T, huyện T, tỉnh N.
Người đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Đỗ Minh H; sinh năm 1979; trú tại: Số 23, ngõ 402, phố B, phường B, quận H1, Thành phố H2 (Theo văn bản uỷ quyền ngày 18-3-2021).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là chị Hoàng Thị L trình bày:
Gia đình ông Nguyễn Văn T được Nhà nước giao cho sử dụng 2.254m2 đ t, trong đó có 305m2 đ t ở và đ t vườn tại thửa 59 và 870m2 đ t ao tại thửa 52, tờ bản đồ số 7. Còn lại 1079m2 đ t ruộng đã được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t (GCNQSDĐ) ngày 28-9-1995. Năm 2008 gia đình ông T đã phun cát l p ao bằng mặt đường. Trong quá trình sử dụng do ông T tuổi cao và đang ở trên thửa đ t khác cách thửa 52 khoảng 500 đến 600 mét nên không quản lý được, đã bị 04 gia đình ở xung quanh l n chiếm. Đến năm 2019 gia đình mới phát hiện thiếu đ t, đã có đơn đề nghị UBND xã Trực Thuận giải quyết, quá trình đo đạc kiểm tra và hòa giải tại UBND xã thì 03 gia đình gồm các hộ: Ông Phạm Văn T1, ông Phạm Văn D, ông Phạm Văn T2 đều nh t trí trả lại đ t. Sau đó, gia đình ông T đã xây tường bao xác định mốc giới với ba hộ trên. Riêng hộ bà Nguyễn Thị M cho rằng không l n chiếm, không đồng ý hòa giải. Gia đình tự khảo sát ước tính gia đình bà M xây tường bao l n sang đ t của ông T khoảng 70m2. Tuy nhiên, quá trình Tòa án giải quyết qua kết quả đo đạc khảo sát bằng máy đã xác định gia đình bà M xây tường bao l n sang đ t của gia đình ông T 80m2. Nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị M trả lại toàn bộ 80m2 đ t cho ông T.
Quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, bà Nguyễn Thị M là bị đơn trình bày: Đ t của gia đình bà sử dụng do ông cha để lại và một phần được Nhà nước c p. Năm 1995 gia đình bà được c p GCNQSDĐ. Năm 2015 - 2016 trước khi xây tường bao bà đã gọi anh T3 là cháu của ông T xác định mốc giới. Nay ông T cho rằng gia đình bà đã l n chiếm khoảng 70m2 đ t ao, là không có căn cứ. Sở dĩ, diện tích đ t của gia đình bà thừa so với bản đồ địa chính và GCNQSDĐ là do gia đình bà đã sử dụng vào đường liên thôn và giếng làng. Bà không nh t trí với yêu cầu khởi kiện của ông T, mà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh Phạm Văn T3 có đơn trình bày: Anh là cháu nội của ông Nguyễn Văn T, đúng là khi xây tường bao bà M có hỏi anh, nhưng anh không biết mốc giới đ t ao nhà ông T và bà M như thế nào, nên chỉ nói đ t của gia đình nào tới đâu xây tới đó.
Uỷ ban nhân dân xã Trực Thuận cung c p. Theo bản đồ năm 1986 hộ bà M, tên trên bản đồ là N (chồng bà M) được sử dụng thửa đ t số 472, diện tích sử dụng 490m2 trong đó có 100m2 đ t ở, 190m2 đ t vườn, 200m2 đ t ao. Thửa đ t ao của hộ ông T theo bản đồ địa chính xã năm 1986 là thửa số 477 diện tích 990m2, tên chủ sử dụng là Hợp tác xã nông nghiệp. Giai đoạn trước năm 1956 nguồn gốc thửa 477 là của gia đình ông T, từ 1956 đến năm 1993 thì toàn bộ đ t ao của xã Trực Thuậnđều T1ộc sự quản lý của HTX nông nghiệp. Đến giai đoạn 1991 - 1993 thực hiện Quyết định 115 của UBND tỉnh Nam Định, Hợp tác xã nông nghiệp bị giải thể, UBND xã Trực Thuận đã trả lại các diện tích đ t ao về cho chủ cũ, trong đó có hộ ông T. Đến bản đồ đo đạc năm 1992 chỉnh lý năm 1995 thửa 472 (hộ ông N) đổi thành thửa 38, Giếng làng không còn sử dụng, UBND xã đã hợp thức hóa một phần diện tích cho hộ ông N và một phần cho hộ ông T, do vậy thửa 38 có diện tích sử dụng 562m2. Thửa 477 đổi thành thửa 52 mang tên chủ sử dụng là ông T, diện tích 876m2 là đ t ao. Căn cứ vào diện tích thực tế thể hiện trên bản đồ năm 1992, chỉnh lý năm 1995 hộ bà M đã được c p GCNQSDĐ diện tích 562m2, hộ ông T được ghi nhận trong GCNQSDĐ diện tích 886m2. Theo số liệu bản đồ địa chính xã Trực Thuận từ năm 1985 đến nay, diện tích mặt đường liên thôn phía Bắc và mặt đường xóm phía Nam đều rộng 04 mét.
Kết quả đo đạc thực tế và định giá, thửa 52 có diện tích 768m2, thửa 38 có diện tích 682m2, giá trị đ t ao đang tranh ch p đã được san l p bằng mặt đường có trị giá 400.000đồng 1m2, giá đ t cát san l p theo thị trường tại địa phương là 130.000/1m3 (độ sâu của ao trung bình 01 mét). Tài sản trên phần đ t đang có tranh ch p là 01 bức tường bao xây gạch bi cao 1,2 mét, chiều dài có 01 cạnh 17 mét, 01 cạnh 16,4 mét; 01 khóm tre; 01 cây mít; 02 cây gỗ xưa đường kính tương đương ống nước phi 48 cao 4,5 mét; 02 cây bưởi. T t cả những tài sản này là của gia đình bà M, do gia đình bà M tự khai và không yêu cầu thẩm định, định giá.
Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh đã quyết định:
Căn cứ các Điều 166, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS), khoản 3 Điều 100; khoản 1 Điều 166; Điều 170 Luật Đ t đai năm 2013,
1. Ch p nhận yêu cầu khởi kiện về tranh ch p quyền sử dụng đ t của ông Phạm Văn T đối với bà Nguyễn Thị M;
2. Buộc bà Nguyễn Thị M phải có trách nhiệm tháo dỡ tường bao xây gạch bi và dịch chuyển cây trồng về phần đ t của gia đình mình để trả lại 80m2 đ t ao cho ông Phạm Văn T, đ t có các cạnh như sau:
Vị trí 1: Cạnh phía Bắc từ điểm A sang điểm B (tính từ tường bao xây gạch bi của hộ bà M) dài 2,7 mét; cạnh Tây từ điểm A đến điểm D kéo từ Bắc xuống Nam theo thửa đ t 52 dài 17 mét; cạnh Đông từ điểm B đến điểm C kéo từ Bắc xuống Nam dài 17 mét; cạnh Nam kéo từ điểm D sang C (giáp vị trí 2) dài 1,41 mét, diện tích 35m2.
Vị trí 2: Cạnh Đông giáp đường liên thôn (kéo điểm N đến điểm M) dài 02 mét, cạnh Tây giáp (vị trí 1) thửa 52 (từ điểm C đến điểm Đ) dài 04 mét; cạnh Bắc giáp thửa 38 (điểm Đ đến điểm M) dài 15 mét; cạnh Nam giáp đường làng (điểm C đến N) dài 15 mét, diện tích 45m2 ( có sơ đồ kèm theo).
3. Ông Phạm Văn T có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục c p GCNQSDĐ theo hiện trạng là 768m2 + 80m2 = 848m2.
4. Ông T có trách nhiệm thanh toán giá trị công vượt lập 80m2 đ t ao thành vườn, tương đương với 80m3 đ t cho bà M, với giá 130.000đ 1m3, thành tiền là 10.400.000đồng.
5. Phí thẩm định đo đạc, định giá tài sản là 4.730.000 đồng. Ông T và bà M mỗi người phải chịu 1/2. Buộc ông T phải chịu 2.365.000 đồng. Buộc bà M phải chịu 2.365.000đồng. Bà M phải trả cho ông T số tiền 2.365.000 đồng, đối trừ số tiền công vượt lập ông T phải trả cho bà M, ông T còn phải trả cho bà M số tiền 8.035.000 đồng.
Ngày 22-10-2020 bà Nguyễn Thị M là bị đơn trong vụ án có đơn kháng cáo với nội dung: Không nh t trí với bản án sơ thẩm vì bà không được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án gửi nhầm cho bà quyết định của vụ khác. Toà án không đưa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, diện tích đ t nguyên đơn đòi chính là đ t đã l y làm đường liên thôn, chưa xác định được ranh giới và mốc giới giữa đ t của 02 ao có tranh ch p, đề nghị c p phúc thẩm tiếp tục thẩm định, xác minh, l y ý kiến của khu dân cư theo quy định của pháp luật và xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: C p sơ thẩm không đưa các con ông N, bà M vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền tham gia tố tụng, tham gia phiên toà, quyền kháng cáo của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Về nội dung: C p sơ thẩm đã thu thập đánh giá chứng cứ không đầy đủ, không khách quan, nguyên đơn không chứng minh được còn quyền sử dụng đ t ao trong khi thời hạn sử dụng đ t trong GCNQSDĐ đã hết, không chứng minh được hành vi l n chiếm đ t của bị đơn như thế nào, c p sơ thẩm chỉ căn cứ số liệu về diện tích, trong khi số liệu diện tích đ t ao ông T mỗi lần đo đạc mỗi khác, đ t ao ông T bị thiếu là do các hộ khác l n chiếm, do mở rộng đường làng và sai số khi đo đạc, việc cán bộ địa chính cung c p đ t đường làng từ trước đến nay có chiều rộng 4m là hoàn toàn không có căn cứ, vì trước đây đường chỉ rộng có 1,5m, còn nhiều ảnh chụp lại, cho đến nay đường cũng chỉ rộng có 3m, vậy l y đâu ra số liệu 4 m, chính quyền địa phương thừa nhận hiện không có tài liệu hồ sơ lưu trữ nào về đ t Giếng làng, nên việc chính quyền xác nhận đã hợp pháp hoá một phần đ t giếng làng cho ông T là không có cơ sở, bản đồ năm 1992 không tiến hành đo vẽ hiện trạng sử dụng đ t các hộ, đ t Giếng làng không thuộc thửa đ t ao ông T trước kia, gia đình ông T cũng chưa khi nào sử dụng mà gia đình bà M là người sử dụng toàn bộ đ t Giếng làng từ khi không có nhu cầu sử dụng chung cho đến nay, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), huỷ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông T.
Chị L trình bày: Gia đình chị không có văn bản nhưng đã nh t trí uỷ quyền cho chị đại diện tham gia tố tụng, chị đã cung c p đầy đủ tài liệu chứng cứ chứng minh gia đình chị đã được hợp pháp hoá 45m2 đ t Giếng làng, đã được c p GCNQSDĐ hợp pháp, chị đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã ch p hành đúng những quy định của BLTTDS. Về nội dung: Căn cứ hồ sơ địa chính, bản đồ đo đạc từ năm 1986 đến nay, kết quả đo đạc thẩm định bằng máy xác định hộ ông T thiếu 120m2, hộ bà M thừa 120m2 đ t so với GCNQSDĐ được c p, đã có đủ căn cứ xác định hộ bà Nguyễn Thị M sử dụng sang 80m2 đ t ao của hộ ông Phạm Văn T. Việc c p sơ thẩm bỏ sót người tham gia tố tụng không làm ảnh hưởng tới bản ch t vụ án, nên đề nghị Hội đồng xét xử không ch p nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét kháng cáo của bị đơn th y rằng: Căn cứ GCNQSDĐ thể hiện đ t c p cho hộ gia đình ông T và hộ gia đình bà M, nên có quyền lợi của thành viên khác trong hộ, trong khi đó bà T1 (vợ ông T) chết ngày 30-7-2007, ông N (chồng bà M) chết ngày 02-5-2013, nhưng Toà án c p sơ thẩm không đưa những người thừa kế của bà T1, ông N vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tại phiên toà phúc thẩm các đương sự xác nhận bà T1, ông T có 07 người con, ông N, bà M có 04 người con là bỏ sót người tham gia tố tụng, vi phạm khoản 4 Điều 68 BLTTDS, trong điều kiện bà M già cả, khó khăn trong việc cung c p chứng cứ và đi lại đã vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm. Nên kháng cáo của bà M cho rằng c p sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng vì đã không đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (NCQLNVLQ) vào tham gia tố tụng, đề nghị huỷ án giải quyết sơ thẩm lại là có căn cứ.
Về nội dung: Mặc dù c p sơ thẩm không chỉ căn cứ kết quả đo đạc bằng máy xác định diện tích đ t hộ ông T thiếu 120m2, hộ bà M thừa 120m2 so với GCNQSDĐ, mà còn căn cứ hình thể thửa đ t thể hiện trên bản đồ qua các thời kỳ. Theo bản đồ gốc 299 năm 1986 cạnh phía Tây thửa đ t hộ bà M thể hiện là một đường thẳng không g p khúc như hiện nay, đến bản đồ năm 1992 thửa đ t hộ ông T đã thể hiện có một phần đ t Giếng làng trước đây, mà trên cơ sở bản đồ năm 1992 các gia đình đã được c p GCNQSDĐ từ năm 1995 đến nay không ai có ý kiến gì, phù hợp với nội dung cung c p của Uỷ ban nhân dân xã Trực Thuận về việc đã hợp pháp hoá đ t Giếng làng cho cả gia đình bà M và gia đình ông T. Song, do đ t Giếng làng gia đình ông T trên thực tế không l n chiếm sử dụng, cũng không đề nghị hợp pháp hoá, mà gia đình bà M mới là người l n chiếm sử dụng từ trước đến nay, nên cần thu thập hồ sơ tài liệu lưu trữ tại Phòng tài nguyên môi trường, Văn phòng đăng ký đ t đai và Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh là các cơ quan chuyên môn và có thẩm quyền quản lý đ t đai ở địa phương để làm rõ hơn về diễn biến quá trình thiết lập bản đồ năm 1992 của xã Trực Thuận mà trên cơ sở đó các hộ gia đình được c p GCNQSDĐ, về trình tự thủ tục hợp pháp hoá đ t Giếng làng và hồ sơ thủ tục c p GCNQSDĐ cho hai hộ ông T, bà M, để có căn cứ vững chắc khi giải quyết vụ án.
Đồng thời, kết quả xem xét thẩm định thể hiện trên đ t đang có tranh ch p có 01 khóm tre; 01 cây mít đang thu hoạch, 02 cây gỗ xưa đường kính tương đương ống nước phi 48, cao 4,5 mét, 02 cây bưởi, 03 bụi chuối, trong khi đó gia đình ông T cũng có một phần lỗi trong việc quản lý tài sản, đã tiến hành vượt lập ao từ năm 2008, nhưng không vượt lập hết phần đ t của mình, không có ý kiến gì khi bà M sử dụng toàn bộ đ t Giếng làng từ khi không có nhu cầu sử dụng chung cộng đồng đến nay, từ năm 2016 gia đình bà M đã vượt lập xây tường bao, khi xây tường bao bà M còn hỏi anh T3 cháu nội ông T là một thành viên trong hộ gia đình ông T, nhưng anh T3 không làm hết trách nhiệm là thông báo lại cho gia đình và sau khi bà M xây tường bao gia đình ông T cũng không ai có ý kiến gì suốt từ đó đến nay, nên cần tiến hành định giá, giao cho gia đình ông T sở hữu cây lưu niên trồng trên đ t và thanh toán giá trị cho gia đình bà M để bảo đảm giá trị tài sản, bảo đảm quyền lợi cho gia đình bà M và thuận lợi cho công tác thi hành án.
Như vậy, Toà án c p sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, những sai sót của c p sơ thẩm không thể khắc phục được tại Toà án c p phúc thẩm, cần chuyển hồ sơ cho Toà án c p sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí: Do huỷ án sơ thẩm nên án phí phúc thẩm người kháng cáo không phải nộp, án phí dân sự sơ thẩm được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Huỷ bản án sơ thẩm số 28/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, chuyển hồ sơ cho Toà án c p sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND+VKSND C p cao tại HN; - VKSND tỉnh Nam Định; - TAND huyện Trực Ninh; - Chi cục THA huyện Trực Ninh; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết (Đã ký) |