vanban.org

Bản án 31/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội: "Bắt, giữ người trái pháp luật";

[2] Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; [3] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hữu P 03 (ba) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bắt giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội: "Bắt, giữ người trái pháp luật";
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HSST
Ngày: 02- 03 - 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Phạm Thị Nhung;

- Ông Hồ Lê Hưng;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Vũ Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 03 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 15/2020/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/QĐST-HS, ngày 20/02/2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu P; sinh năm 1982, tại: TP. Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký NTTT: 6/2 Lê Trọng tấn, phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú, tp. Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: phó giám đốc Công ty dịch vụ bảo vệ toàn cầu 24h; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ảnh Sang (chết) và bà: Nguyễn Thị Sạch, sinh năm 1949; con: Nguyễn Ánh Trúc Xuân, sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ ngày 26/7/2019. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh và có mặt tại phiên tòa.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu P: Luật sư Vũ Kim Đồng – Công ty Luật TNHH Vĩnh Tường thuộc Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh (Có mặt).

Người bị hại:

Anh Tôn Thất H, sinh năm 1995; trú tại: 284/25/3 đường Lý Thường Kiệt, phường 14, quận 10, TP. Hồ Chí Minh (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ ; địa chỉ trụ sở: 79 đường T, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, tp. Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Trí T– chức vụ: giám đốc (Vắng mặt).

2. Ông Liên T, sinh năm 2000; địa chỉ: 79 đường T, phường tây Thạnh, quận Tân Phú, tp. Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

3. Bà Nguyễn Thị Thùy G; trú tại: 194 Nguyễn Thái B, phường 12, quận Tân Bình, tp. Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Tôn Thất H vào làm nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ (Công ty Toàn Cầu), địa chỉ số 79 đường T, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú do Nguyễn Hữu P làm phó giám đốc điều hành (P được giám đốc ủy quyền quản lý, điều hành toàn bộ Công ty trong thời hạn 10 năm, kể từ ngày 30/3/2017). Sau đó, H nghỉ việc và giới thiệu cho những bảo vệ của Công ty Toàn Cầu qua Công ty khác làm việc, đồng thời H còn tiếp cận các bảo vệ nam trẻ, xưng là cán bộ của Công ty Toàn Cầu đến đo đồng phục, nhưng khi vào toilet thì H có hành động sờ mó các bảo vệ này. Do tức giận H có hành động nêu trên, nên P thông báo cho các bảo vệ là thấy H ở đâu thì báo cho P biết.

Lúc 18 giờ, ngày 27/6/2019 Nguyễn Văn T đang trực bảo vệ tại cửa hàng Ministop số 194 Nguyễn Thái B, phường 12, quận Tân Bình thì H đến gặp Tài báo sẽ quay lại đo đồng phục. T liền báo cho P biết. P nói T cứ làm theo yêu cầu của H để P vào giữ H. Khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, P đi trên xe taxi Vinasun (loại 7 chỗ ngồi) đến đậu cạnh cửa hàng Ministop chờ. Lúc này, H đến và cùng T vào phòng toilet ở tầng 1 của cử hàng Ministop thì P đi vào. Vào phòng toilet, P dùng tay trái nắm cổ áo phía sau H, kéo đẩy H đi xuống tầng trệt. T có phụ P nắm tay của H dẫn ra ngoài cửa hàng Ministop, P đưa H vào xe taxi chở về Công ty Toàn Cầu tại số 79 đường T1, phường tây Thạnh, quận Tân Phú, còn T tiếp tục làm việc tại Ministop.

Trên đường đi, P gọi điện thoại cho Phạm Thị Lệ Tr quản lý Công ty kêu mở cửa cổng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, xe taxi đến Công ty Toàn Cầu thì P dùng hai tay nắm cổ áo phía sau H, kéo H rời khỏi xe taxi, đẩy H vào trong phòng nghiệp vụ. Tại đây, P dùng gậy cao su màu đen tại phòng nghiệp vụ, cầm trên tay phải đánh liên tiếp 05 cái vào người H. H lùi ra sau, P tiếp tục dùng chân phải đá khoảng 10 cái vào người H.

Tiếp theo, P kêu Liên T là bảo vệ, con của Phạm Thị Lệ Tr vào lập biên bản làm việc H về việc H thường đến các mục tiêu bảo vệ của Công ty để quấy rối các nhân viên bảo vệ. Khi T lập biên bản xong đưa cho H ký vào biên bản rồi T đi ra khỏi phòng. P tiếp tục bắt H cởi hết quần ra, rồi dùng 02 dây thun khoanh đan xen lại, giương căng bắn 02 lần vào dương vật của H.

Đến khoảng 23 giờ 50 phút, P kêu Phạm Thị Lệ Tr khóa cửa cổng, cửa cuốn của Công ty lại, nhưng do Tr chưa xuống kịp nên T giúp Tr khóa các cửa lại. P đón taxi đi về. H thì nằm ở khu vực chân cầu thang của Công ty. Vào thời điểm này, Tr đi xuống tầng trệt gặp T đưa chìa khóa cho Tr giữ (chỉ có T và Tr biết chỗ để chỉa khóa cổng) rồi T đi lên tầng 1 ngủ. Thấy Tr, H có nói khát nước thì Tr nói ở sau bếp. Tr đi lên phòng ở tầng 1 tiếp tục ngủ.

Vào lúc 02 giờ, ngày 28/6/2019 H đi vào phía sau nhà bếp nơi có 05 nhân viên (chưa rõ lai lịch) đang ngủ, H đến sàm sỡ một thanh niên và bị thanh niên này dùng tay đánh trúng 2 mắt của H, đồng thời 05 thanh niên này cầm ghế nhựa đuổi đánh H từ tầng trệt lên tầng 1. Do ồn ào, thấy H chạy đến nên T dùng ghế nhựa đánh H nhưng H đưa tay đỡ được. Tr có đến can ngăn và đưa H đi xuống chân cầu thang ngủ. Lúc này, Tr nhìn thấy mắt của H bị sưng.

Khoảng 09 giờ ngày 28/6/2019, tại phòng nghiệp vụ của Công ty Toàn Cầu, Trần Thanh H - trưởng phòng nghiệp vụ dùng đầu gối thúc 02 lần vào bụng của H. H lấy 02 tờ giấy mượn nợ, loại A4 có in sẵn nội dung H nợ Công ty Toàn Cầu số tiền 32.000.000 đồng buộc H ký và lăn tay. Sau đó, Phạm Minh Q

- trợ lý phòng nghiệp vụ, P, T đi vào phòng nghiệp vụ, rồi P lên phòng làm việc ở tầng 1. Tại phòng nghiệp vụ, T dùng dây xích bằng kim loại có bọc nhựa bên ngoài (dây xích xe máy) có sẵn trong phòng, đánh 01 cái trúng lưng H. Tiếp tục, H dùng tay tát vào mặt H và cầm gậy cao su đánh vào lưng H. Tiếp đó, Nguyễn Hoàng B là pháp chế của Công ty đến phòng nghiệp vụ rồi Bảo lên tầng 1 gặp P. P nói cho bảo biết là H đã làm việc với H thì H thừa nhận có quậy phá các bảo vệ nam của Công ty, nhận tiền 32.000.000 đồng của Công ty để phát lại cho các bảo vệ nhưng H đã chiếm đoạt luôn. Sau đó, B có đi xuống phòng nghiệp vụ, thấy 02 tờ giấy đánh máy đề giấy mượn nợ có chữ ký, lăn tay của Tôn Thất H. Do không hiểu rõ nội dung trong giấy mượn nợ nên B vừa hỏi lại H vừa lấy giấy mượn nợ ghi sơ lược về nội dung vào tờ giấy này. Sau đó, B để lại giấy này tại bàn và đi ra ngoài.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, H điện thoại cho Trần Thị Th là mẹ của H đồng thời chuyển máy cho B nói chuyện. B nói với chị Th là H nợ tiền Công ty 32.000.000 đồng nên kêu chị Th đem tiền trả cho Công ty. Sau đó, Th đến Công ty thì thấy H bị thương tích nên đưa H đến điều trị tại Bệnh viện nhân dân 115. Ngày 30/6/2019, H đến Công an phường Tây Thạnh trình báo.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1037 ngày 21/11/2019 của Trung tâm pháp y tp. Hồ Chí Minh đối với Tôn Thất H:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Đa chấn thương gây sưng bầm mô mềm đã được điều trị, hiện không còn dấu vết thương tích bên ngoài vùng đỉnh đầu, hai tai, hai tay, lưng, hông trái, tình trạng ổn định. Có tỉ lệ 00%. Nghĩ nhiều do vật tày tác động.

- Chấn thương hai mắt gây sưng bầm mô mềm đã được điều trị, hiện:

+ Không còn dấu vết vùng mắt trái. Có tỷ lệ 00%. Nghĩ nhiều do vật tày tác động.

+ Còn một vết tăng sắc tố mi dưới mắt pH kích thước 5x3 cm. Có tỉ lệ 08%. Thương tích do vật tày tác động ra.

+ Đương sự không hợp tác khám chuyên khoa mắt nên không thể xác định tình trạng mắt hiện tại.

2. Theo Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháy y, giám định pháy y tâm thần:

Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 8%.

3. Kết luận khác:

- Cây dùi cui cao su, thanh kim loại tròn rỗng, dây xích kim loại bọc nhựa, ghế nhựa có thể gây ra được các thương tích trên.

- Thông tư 20/2014/TT-BYT không quy định về di chứng”

Vật chứng thu giữ :

- Thu giữ qua khám xét Công ty Toàn Cầu:

+ 01 dây xích kim loại bọc nhựa màu xám, dài 84cm.

+ 01 thanh kim loại hình tròn rỗng, kích thước 2x64 cm.

+ 02 tờ giấy A4 có in nội dung „Giấy mượn nợ „ có chữ ký và dấu vân tay của H (kèm hồ sơ).

+ 01 đầu thu camera, hiệu VDTECH, màu đen, có số Imel : VDT4500A HĐ- 058U285022.

- Thu giữ của Nguyễn Hữu P :

+ 01 áo thun ngắn tay màu trắng có sọc ngang màu đen, có ghi chữ „ Binnajia „.

+ 01 quần Jean dài màu xanh bạc, 01 đôi dép kẹp màu xanh đen, P mặc khi phạm tội.

+ 01 điện thoại di động OPPO màu đen, số Imel : 8638863243311, P sử dụng liên lạc cá nhân.

- Thu giữ của Nguyễn Văn T:

+ 01 điện thoại di động hiệu Vivo V3, màu trắng hồng, số Imel : 860907037222614, sử dụng liên lạc cá nhân.

+ 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh có in logo Công ty Toàn Cầu 24H, mặc lúc xảy ra sự việc.

- Thu giữ của Liên T :

+ 01 điện thoại di động OPPO F7, số Imel : 86847039703979935, sử dụng liên lạc cá nhân.

+ 01 áo thun ngắn tay màu nâu, 01 quần Jean dài màu xanh, mặc lúc xảy ra sự việc.

+ 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh, 01 quần kaki dài màu đen, mặc lúc xảy ra sự việc.

- Thu giữ của Nguyễn Thị Thùy G : 01 đĩa DVD màu vàng ghi nhận sự việc P bắt giữ Tôn Thất H (kèm hồ sơ vụ án).

- Thu giữ của Tôn Thất H : 01 áo thun ngắn tay màu nâu; 01 quần jean màu xanh (quần lửng).

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSQ.TP ngày 16 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm b khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.

- Bị cáo Nguyễn Hữu P đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo: không thống nhất với Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự; Bởi lẽ; do người bị hại đã có hành vi giới thiệu nhân viên của Công ty Toàn Cầu sang làm cho Công ty khác đã xâm hại đến quyền lợi của Công ty, nên bị cáo mới có hành vi vi phạm pháp luật, chứ bị cáo hoàn toàn không lợi dụng chức vụ quyền hạn như Cáo trạng quy kết. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định:

Nguyễn Hữu P là phó giám đốc Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ được giám đốc Công ty là anh Nguyễn Trí T ủy quyền quản lý, điều hành Công ty với thời hạn là 10 năm, kể từ ngày 30/3/2017 (theo Hợp đồng ủy quyền số 005275/HĐ-UQ ngày 30/3/2017 do Phòng Công Chứng Tân Bình lập). Quá trình quản lý và điều hành Công ty, do bực tức Tôn Thất H (là nhân viên bảo vệ của Công ty nhưng đã nghĩ việc) giới thiệu cho những nhân viên bảo vệ của Công ty mình sang làm việc cho Công ty khác, đồng thời H còn tiếp cận các nhân viên bảo vệ nam trẻ, xưng là cán bộ của Công ty Toàn Cầu đến đo đồng phục và có hành động sờ mó các nhân viên bảo vệ của Công ty mình. Nên vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 27/6/2019, sau khi được nhân viên bảo vệ Nguyễn Văn T thông báo Tôn Thất H đang ở cửa hàng Ministop số 194 Nguyễn Thái B, phường 12, quận Tân Bình thì P liền đón xe taxi đến khống chế bắt H đưa lên xe taxi đem về giữ tại trụ sở Công ty Toàn Cầu ở địa chỉ số 79 đường T, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, tp. Hồ Chí Minh đến chiều ngày 28/6/2019 mới thả ra. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” với tình tiết định khung là: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, lời bào chữa của Luật sư là không có căn cứ để chấp nhận.

Vì vậy, Cáo trạng số 23/CT-VKSQ.TP ngày 16 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm b khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi nghị án lượng hình cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Người bị hại cũng có một phần lỗi; Tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại khoản 4 Điều 157 còn quy định hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn, nên Hội đồng xét xử nghĩ không cần thiết pH áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Đối với Nguyễn Văn T là nhân viên bảo vệ thuộc Công ty Toàn Cầu dưới sự quản lý, điều hành của Nguyễn Hữu P. Khi Tôn Thất H đến gặp T thì T đã thông báo cho P biết và P đến bắt H đi. Tuy nhiên, giữa T và P không có sự bàn bạc trước về việc bắt giữ H, nên Cơ quan điều tra không khởi tố T với vai trò đồng phạm là có căn cứ.

- Đối với Liên T biết P bắt H đem về Công ty Toàn Cầu để đánh và giữ H lại. Khi P ra về thì có kêu Phạm Thị Lệ Tr (mẹ ruột của T) khóa cửa Công ty. Do Tr không nghe, nên T đã đến khóa cửa dùm cho mẹ, quá trình điều tra P không phân công T canh giữ H. Xét thấy, hành vi của T hạn chế, nên Cơ quan điều tra không khởi tố với vai trò đồng phạm là phù hợp.

- Đối với Phạm Thị Lệ Tr được giao nhiệm vụ quản lý chìa khóa cửa của Công ty. Việc P bắt, giữ H tại Công ty Toàn Cầu thì không được bàn bạc từ trước. Sau khi P bắt H về giữ tại Công ty thì Tr có biết. Tuy nhiên, P cũng không phân công Tr giữ H. Việc Tr giữ chìa khóa của Công ty là công việc hàng ngày được phân công. Do đó, Cơ quan điều tra không khởi tố Tr với vai trò đồng phạm là phù hợp.

- Đối với 05 thanh niên bảo vệ (chưa xác định được nhân thân lai lịch) bị H quấy phá lúc đang ngủ tại Công ty Toàn Cầu. H trình bày đã bị một trong 05 thanh niên này dùng tay đánh vào mắt gây thương tích 8%. Do vậy, cũng chưa đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích.

- Đối với việc bắt H ghi giấy mượn nợ số tiền 32.000.000 đồng, P khai do Trần Thanh H là trưởng phòng nghiệp vụ của Công ty Toàn Cầu tự ý làm, P không chỉ đạo. Hiện H đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được để xác định rõ động cơ, mục đích việc H tạo giấy nợ trên. Nên Cơ quan điều tra chưa có đủ căn cứ để xác định hành vi cưỡng đoạt tài sản là phù hợp pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, người bị hại anh Tôn Thất H chưa đưa ra yêu cầu bị cáo P phải có trách nhiệm bồi thường. Tại phiên tòa, người bị hại anh Tôn Thất H yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 15.000.000 đồng. Bị cáo P đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại. Xét thấy, đây là sự thỏa thuận tự nguyện, phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử công nhận.

Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra đã tiến hành thu giữ:

- Thu giữ của Công ty Toàn Cầu gồm:

+ Đối với 01 dây xích kim loại bọc nhựa màu xám dài 84 cm; 01 thanh kim loại hình tròn rỗng, kích thước 2 x 64 cm; 01 đầu thu camera, hiệu VDTECH, màu đen, có số Imel: VDT4500A HĐ-058U285022. Xét đây là tài sản hợp pháp của Công ty Toàn Cầu, nghĩ nên trả lại cho Công ty Toàn Cầu.

+ Đối với 02 tờ giấy A4 có in nội dung “Giấy mượn nợ” có chữ ký và dấu vân tay của Tôn Thất H. Đây là chứng cứ của vụ án, nên được lưu trong hồ sơ vụ án.

- Thu giữ của Nguyễn Hữu P :

+ Đối với 01 áo thun ngắn tay màu trắng có sọc ngang màu đen, có ghi chữ Binnajia; 01 quần Jean dài màu xanh bạc, 01 đôi dép kẹp màu xanh đen P mặc khi phạm tội. Tại phiên tòa, P không yêu cầu nhận lại. Xét thấy, không còn giá trị sử dụng, nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại di động OPPO màu đen, số Imel : 8638863243311, P sử dụng liên lạc cá nhân. Cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc Thi hành án đối với phần bồi thường cho anh Tôn Thất H.

- Thu giữ của Nguyễn Văn T:

+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo V3, màu trắng hồng, số Imel : 860907037222614, sử dụng liên lạc cá nhân; 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh có in logo Công ty Toàn Cầu 24H, mặc lúc xảy ra sự việc. Xét đây là tài sản hợp pháp của Tài. Nên cần tuyên trả lại cho Nguyễn Văn T.

- Thu giữ của Liên T :

+ Đối với 01 điện thoại di động OPPO F7, số Imel : 86847039703979935, sử dụng liên lạc cá nhân; 01 áo thun ngắn tay màu nâu, 01 quần Jean dài màu xanh, mặc lúc xảy ra sự việc; 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh, 01 quần kaki dài màu đen, mặc lúc xảy ra sự việc. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của anh Liên T, nên cần tuyên trả lại cho anh Liên T.

- Thu giữ của Nguyễn Thị Thùy G : 01 đĩa DVD màu vàng ghi nhận sự việc P bắt giữ Tôn Thất H. Xét đây là chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Nên lưu tại hồ sơ vụ án.

- Thu giữ của Tôn Thất H : 01 áo thun ngắn tay màu nâu ; 01 quần jean màu xanh (quần lửng). Tại phiên tòa, anh H không yêu cầu nhận lại. Xét thấy, không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo pH nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội: "Bắt, giữ người trái pháp luật";

[2] Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

[3] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hữu P 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 26/7/2019.

[4] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu P phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Tôn Thất H số tiền: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng, bên pH thi hành án còn pH chịu khoản tiền lãi của số tiền còn pH thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền chậm thi hành án.

[5] Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Trả lại cho Công ty TNHH dịch vụ bảo về Toàn Cầu 24H: 01 dây xích kim loại bọc nhựa màu xám dài 84 cm; 01 thanh kim loại hình tròn rỗng, kích thước 2 x 64 cm; 01 đầu thu camera, hiệu VDTECH, màu đen, có số Imel: VDT4500A HĐ-058U285022;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu trắng có sọc ngang màu đen, có ghi chữ Binnajia; 01 quần Jean dài màu xanh bạc, 01 đôi dép kẹp màu xanh đen P mặc khi phạm tội.

- Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động OPPO màu đen, số Imel : 8638863243311 của bị cáo Nguyễn Hữu P để đảm bảo cho việc Thi hành án đối với phần bồi thường cho anh Tôn Thất H.

- Trả lại cho anh Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động, hiệu Vivo V3, màu trắng hồng, số Imel : 860907037222614; 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh có in logo Công ty Toàn Cầu 24H.

- Trả lại cho anh Liên T: 01 điện thoại di động OPPO F7, số Imel : 86847039703979935; 01 áo thun ngắn tay màu nâu, 01 quần Jean dài màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh, 01 quần kaki dài màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu nâu ; 01 quần jean màu xanh (quần lửng) thu giữ của anh Tôn Thất H.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 205/PNK ngày 02/8/2019 và số 02/PNK ngày 30/12/2019 của Công an quận Tân Phú, tp. Hồ Chí Minh).

[6] Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu P phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

[7] Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bị hại. Quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ