vanban.org

Bản án 31/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 24/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Phạm Văn T: 17(mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Tuấn Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 31/2020/HSST
Ngày: 24/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thanh Tú.

Các hội thẩm nhân dân : Ông Vũ Mạnh Huề

Bà Nguyễn Thị Huyền Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy–Cán bộ Toà án nhân dân quận Hai Bà

Trưng – Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà

Lê Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 24.02.2020, tại trụ sởTrụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2020/HSST ngày 10.02.2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 2 năm 2020 đối với bị cáo:

Bị cáo Phạm Văn T, sinh năm 1997; tại tỉnh Nam Đ; Đăng ký nhân khẩu thường

trú: Xóm 2 xã Trực T, huyện Trực N, tỉnh N; chỗ ở: Lang thang; Nghề nghiệp: không. Trình độ văn hoá: 8/12. Con ông: Phạm Văn N,Con bà: Đỗ Thị T; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự:

-

01 tiền án: Ngày 28/6/2018 Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam

Định xử 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 01/02/2019 . (chưa được xóa án tích).

Danh chỉ bản số: 405 lập ngày 02/11/2019 do Công an quận Hai Bà Trưng cung

cấp. Bắtquả tang ngày 30/10/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h10 ngày 30/10/2019, Công an phường Thanh Nhàn phối hợp với Tổ

công tác Y24/141/CATP Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư Kim Ngưu-Thanh Nhàn, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội đã tiến hành kiểm tra 02 đối tượng đang điều khiển xe máy là Trần Văn G (là người điều khiển xe) và Phạm Văn T (người ngồi sau). Quá trình kiểm tra, T tự nguyện lấy từ túi quần trước bên phải đang mặc giao nộp 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và khai nhận là Heroine mua về để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa G và T cùng tang vật về trụ sở để làm rõ. Ngoài ra Cơ quan công an còn thu giữ của Trần Văn G 01 (một) xe máy hiệu Honda Wave S màu nâu đen BKS: 30Z2-5432 đã qua sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Phạm Văn T.

Tại Bản kết luận giám định số 7021/KLGĐ-PC09 ngày 08/11/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại

Heroine, khối lượng: 0,134gam.

Tại cơ quan Công an, Phạm Văn T khai nhận: Khoảng 13h30 ngày 30/10/2019, T

đi bộ lên khu vực đê Trần Khát Chân để mua Heroine. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. Sau đó, T đi bộ lang thang tìm nơi sử dụng, ra đến đường Trần Khát Chân thì thấy Trần Văn G đi xe máy qua nên hỏi đi nhờ xe. T không quen biết G. Đến khoảng 14h10 cùng ngày, đến khu vực ngã tư Kim Ngưu Thanh Nhàn thì bị kiểm tra. T đã tự nguyên giao nộp gói ma túy cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc.

Đối với Trần Văn G không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T vào ngày 30/10/2019 tại khu vực đê Trần Khát Chân, T khai không rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm, nhưng không làm rõ được nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe máy BKS: 30Z2-5432, số khung: 074265, số máy: 1317458 quá trình điều tra, ngày 10/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng ra Quyết định tách tài liệu hồ sơ trong vụ án số 26 đối với chiếc xe máy trên để tiếp tục xác minh làm rõ.

Tại Bản cáo trạng số 30/CT/VKS-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 đã truy tố bị

cáo Phạm Văn T về tội Tang trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan công an, công nhận nội dung bản cáo

trạng truy tố bị cáo là đúng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quan điểm truy

tố đối với Phạm Văn T như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Văn T với mức án từ 18 tháng 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản.Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) bì giấy đã niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám

định viên và bị cáo Phạm Văn T, có khối lượng 0,134 gam Hêroin.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị

cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà

Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án:Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời

khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà Nội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 30/9/2019, tại khu vực ngã tư Kim Ngưu –Thanh Nhàn, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Phạm Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,134 gam ma túy loại Hêroin. Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

“Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán,

vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) …Methamphetamine …….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

Do đó viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ

trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi

thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách lybị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

. Xét nhân thân của bị cáo có 01 tiền án, ngày 28/6/2018 Tòa án nhân dân

huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Do vậy lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra

và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về , do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa

đổi bổ sung năm 2017 quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 (Năm triệu) đồng đến 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng”. Tuy nhiên, xét bị cáo Phạm Văn T không có nghề nghiệp, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) bì giấy đã niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám

định viên và bị cáo Phạm Văn T, có khối lượng 0,134 gam Hêroin vì liên quan

đến hành vi phạm tội.

- Đối với Trần Văn G không biết và không liên quan đến hành vi Tàng trữ trái phép

chất ma túy cảu T nên cơ quan không đề cập xử lý nên không xét.

- Đối với người đàn ông bán ma túy cho T vào ngày 30/10/2019 tại khu vực đê Trần

Khát Chân, T khai không rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy

tìm, nhưng không làm rõ được nên không có căn cứ để xử lý nên không xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và

có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1

Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo: Phạm Văn T: 17(mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ

ngày 30/10/2019.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

3.Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ

luật tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) bì giấy đã niêm phong, có khối lượng 0,134 gam

Hêroin, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo Phạm Văn T.

Các tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà

Trưng - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày

16/01/2020 (TV:117/20) giữa Công an quận Hai Bà Trưng và Chi cục thi hành

án dân sự quận Hai Bà Trưng.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015; Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ