vanban.org

Bản án 31/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Tuyên án 23/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: khoản 1 điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36 BLHS.

Xử phạt: Dƣơng Thị B 10(mười) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thị B cho vay lãi nặng - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: khoản 1 điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36 BLHS.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HSST
Ngày 23 - 4 - 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hào – Bà Nguyễn Thị Diệu Hồng

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Quang Sáng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: bà Lại Thị Hiền - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2020/HSST, ngày 03 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/ QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Dƣơng Thị B - sinh ngày 20 tháng 4 năm 1995 tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 7, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn B và bà Nguyễn Thị H; chồng Vũ Văn M(đang chấp hành án) và 2 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 27/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tạm giam: không; tạm giữ: 08/01/2010 – 11/01/2010 cho bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Ngô Thị N – sinh năm 1989

Trú tại: xóm S, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 03/5/2019 đến ngày 15/5/2019 chị Ngô Thị N trú tại xóm S, xã N, huyện Y đặt vấn đề vay của Dương Thị B 5 lần với tổng số tiền là 70.000.000 đồng. Việc vay tiền và tính lãi suất hai bên không lập thành văn bản mà chỉ thỏa thuận bằng miệng. Tuy nhiên thời gian vay, số tiền vay và lãi suất được B ghi chép lại vào 1 cuốn sổ để theo dõi, các bên thỏa thuận lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày và cứ 10 ngày thanh toán tiền lãi 1 lần, bắt đầu tính lãi từ ngày 15/5/2019. Theo đó chị N đã trả lãi cho B đến ngày 27/12/2019 (227 ngày) với tổng số tiền là 47.670.000 đồng. Theo quy định của pháp luật thì B được phép cho vay và tính lãi suất tối đa là 20%/ năm, cụ thể: 20%/năm x 70.000.000 đồng x 227 ngày = 8.707.000 đồng. Lãi suất thực tế B cho N vay = 109,5%/ năm, cao gấp 5,475 lần lãi suất tối đa cho phép. Như vậy, số tiền mà B thu lợi bất chính từ giao dịch nêu trên là 47.670.000 đồng – 8.707.000 đồng = 38.963.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 44/VKS-HS ngày 31/3/2020 của VKSND huyện Yên Thành đã truy tố Dương Thị B về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật xử phạt bị cáo: Dương Thị B từ 9 - 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, khấu trừ 1 phần thu nhập mỗi tháng từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng để sung quỹ nhà nước. Bị cáo không có tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ buộc tội: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Bị cáo có hành vi cho chị Ngô Thị N vay tiền với lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất trong Bộ luật Dân sự thu lợi bất chính 38.963.000 đồng nên Viện kiểm sát truy tố B về tội “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quy định của nhà nước về quản lý các hoạt động tín dụng, xâm phạm lợi ích của công dân. Vì thế, cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Dương Thị B có tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặt khác, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú tại cơ quan điều tra để khai báo về hành vi vi phạm; bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt, hiện đang nuôi 2 con nhỏ mới hơn 3 tuổi, chồng đang chấp hành án phạt tù “chung thân”. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 điều 201 BLHS quy định cao nhất là cải tạo không giam giữ nên cần cân đối tính chất mức độ để lên cho bị cáo một mức án như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Cần phải khấu trừ thu nhập của bị cáo mỗi tháng từ 400.000 đồng – 500.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 70 triệu đồng mà bị cáo cho chị Ngô Thị N vay được xác định là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần phải tịch thu sung quỹ nhà nước. Số tiền này hiện tại chị N chưa trả lại cho bị cáo nên cần phải tuy thu tại chị N để sung công quỹ.

Đối với số tiền 38.963.000 đồng, xác định đây là số tiền mà Dương Thị B đã thu lợi bất chính từ giao dịch dân sự nêu trên nên cần phải truy thu tại B để sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ: khoản 1 điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36 BLHS.

Xử phạt: Dƣơng Thị B 10(mười) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

*/Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo Dương Thị B mỗi tháng cải tạo không giam giữ là: 400.000 đ(bốn trăm ngàn) đồng để sung quỹ nhà nước.

Giao bị cáo Dương Thị B cho UBND xã T, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình cỏc bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. [2] Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, điều 46 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS.

- Truy thu tại bị cáo Dương Thị B số tiền 38.963.000(ba mươi tám triệu chín trăm sáu mươi ba nghìn) đồng để sung quỹ nhà nước.

- Truy thu tại chị Ngô Thị N số tiền 70.000.000(bảy mươi triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.

[3] Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Dương Thị B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn trên, nhưng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ