vanban.org

Bản án 31/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 29/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T18 ( Mười tám ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 13/01/2020 ( Ngày bắt giữ bị cáo ). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 31/2020/HSST.
Ngày: 29 - 5 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.

Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Lò Văn Dưỡng + Cầm Văn Quynh.

- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Kim – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2020/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2020/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1960 tại: Huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Tổ 09, phường Q T, thành phố S L, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông: Bùi Đức C ( Đã chết ) và bà Nguyễn Thị N ( Đã chết ); bị cáo có vợ là Phạm Thị L, sinh năm: 1962 ( Đã ly hôn ) và có 02 con ( Đều đã trưởng thành ); tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Tại bản án số: 13/2017/HSST ngày 09/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã xử phạt bị cáo Bùi Văn T 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Trong vụ án này bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2020 tại nhà tạm giữ Công an huyện Sốp Cộp, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi liên quan: Ông Bùi Xuân H, sinh năm: 1972, địa chỉ: Bản S N, xã S C, huyện S C, tỉnh Sơn La ( Có mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 20 phút ngày 13/01/2020, tại khu vực bản Mường Và, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Mường Và phát hiện bắt quả tang đối tượng Bùi Văn T ( Sinh năm: 1960, trú tại: Bản Tổ 09, phường Q T, thành phố S L, tỉnh Sơn La) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng của đối tượng gồm:

- Thu trong bàn tay trái Bùi Văn T 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (Nghi là ma túy );

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BLADE, biển kiểm soát: 26C1-172.43, đã qua sử dụng.

Ngày 14/01/2020, tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh để xác định số vật chứng giữ của đối tượng Bùi Văn T có khối lượng 0,27 gam. Lấy toàn bộ 0,27 gam đánh ký hiệu T làm mẫu vật gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 223 ngày 16/01/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,27 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,27 gam, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu T, không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng 0,21 gam.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, bị can Bùi Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 13/01/2020, Bùi Văn T mang số tiền 200.000 đồng điều khiển xe mô tô, BKS: 26C1- 172.43 từ bản Sốp Nặm, xã Sốp Cộp đến bản Mường Và, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến bản Mường Và thì gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết ( Tự giới thiệu tên Yên ) đứng ở ven đường 01 gói Heroine được gói bằng mảnh ni lon màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì Thơm cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô về trung tâm huyện Sốp Cộp, tuy nhiên khi vừa đi được khoảng 01 Km thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Mường Và phát hiện bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép gói ma túy như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 32/CT - VKS ngày 28/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Bùi Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo Bùi Văn T, với tội danh và điều khoản luật áp dụng như trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Tuyên tịch thu tiêu huỷ số vật

2

chứng gồm: 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh ni lon màu trắng và 0,21 gam Heroine ( Vật chứng do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La hoàn lại ). Đề nghị trả lại chiếc xe mô tô BKS: 26C1-172.43 cho người có quyền lợi liên quan Bùi Xuân Hiền, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 13/01/2020 đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ 0,27 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Nay bị cáo đã biết tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa người có quyền lợi liên quan có ý kiến: Ngày 13/01/2020 tôi ( Hiền ) có cho anh trai là bị cáo T mượn xe mô tô BKS: 26C1- 172.43 và việc bị cáo tự ý sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy bản thân tôi không hề biết. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe cho tôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Ngày 13/01/2020, bị cáo Bùi Văn T ( Có căn cước lý lịch như trên ) đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý ( 0,27 gam Heroine ) với mục đích sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ là ma túy; kết luận giám định về ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Bùi Văn T đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

3

c) Heroine, Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.".

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi tội phạm bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Cụ thể hành tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước là xâm hại đến chính sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển . . . trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo là người đã từng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội mới. Do đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, nên được áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào kết quả xác minh xác định bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 0,21 gam Heroine ( Số còn lại sau khi đã sử dụng 0,06 gam để giám định ) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và là vật nhà nước cấm lưu hành. Cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên Tịch thu tiêu hủy cùng với vật chứng liên quan gồm: 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh ni lon màu trắng.

- Đối với chiếc xe mô tô BKS: 26C1- 172.43 tạm giữ từ bị cáo. Kết quả điều tra xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Bùi Xuân Hiền ( Em trai bị cáo ), việc bị cáo sau khi mượn xe tự ý sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy ông Hiền không biết. Do vậy cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho ông Bùi Xuân Hiền.

4

Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết tự giới thiệu tên là Yên ở khu vực bản Mường Và, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp vào ngày 13/01/2020. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được tuổi tác, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của đối tượng. Do vậy không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo và người có quyền lợi liên qun được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn T18 ( Mười tám ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 13/01/2020 ( Ngày bắt giữ bị cáo ).

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tiếp tục tạm giam bị cáo Bùi Văn T trong hạn 45 ( Bốn mươi lăm ) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 phong bì của Công an huyện Sốp Cộp đã được niêm phong dán kín, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ Bùi Văn Thơm, sinh năm 1960, trú tại tổ 9, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 13/01/2020, bên trong phong bì có vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh ni lon màu trắng ". Mặt còn lại của phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 010017 vào mép dán của phong bì, trên mép dán giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, chữ ký họ tên của người bị bắt Bùi Văn T và hai hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, Sơn La;

+ 01 phong bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã được niêm phong dán kín, một mặt phong bì ghi: "Mẫu không sử dụng đến trong quá trình giám định, thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu T, có khối lượng 0,21 gam của vụ: Bùi Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 13/01/2020 tại xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La ". Mặt còn lại của phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 000163 vào mép dán của phong bì, trên

5

mép dán giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và hai hình dấu tròn đỏ của phòng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

- Tuyên trả lại cho người có quyền lợi liên quan là ông Bùi Xuân Hiền: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BLADE màu đỏ, đen, biển kiểm soát: 26C1-172.43, số khung: 3648GY054381, số máy: JA36E0510400, xe đã qua sử dụng.

3. Án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Báo cho bị cáo và người có quyền lợi liên quan biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ