- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đạt - Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THỊ XÃ M TỈNH H -----***----- Bản án số: 31/2020/HSST Ngày: 02/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M - TỈNH H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phan Xuân Hùng.
2/ bà Nguyễn Thị Thìn.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tân Huyền - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M tham gia phiên toà: Bà Đặng Hiền Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở UBND phường Dị Sử, thị xã M, tỉnh H, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2020/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/HSST - QĐ ngày 17 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1998
- Nơi cư trú: Thôn B, xã D, thị xã M, tỉnh H.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.
- Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
- Con ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1976) và bà Vũ Thị Ph (sinh năm 1977).
- Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Chưa có.
- Bị cáo bị tạm giữ từ 0 giờ 10 phút ngày 16/01/2020 đến 21 giờ 00 phút ngày 17/01/2020. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Dương Quang, thị xã M, tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người liên quan:
1/ Chị Hà Thị D, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
HKTT: Xóm Chỗ, xã Ch, huyện Q, tỉnh Ngh.
2/ Anh Kiều Văn T, sinh năm 1989(Vắng mặt)
KHTT: Thôn M, xã D, thị xã M, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài hiệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 21 giờ 40 phút ngày 15/01/2020, Công an thị xã M phối hợp với Công an phường M tiến hành kiểm tra, phát hiện tại trước cửa cây xăng Minh Đức thuộc tổ dân phố Th, phường M, thị xã M, Nguyễn Tiến Đ có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trong người. Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại lòng bàn tay phải của Đạt 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất dạng cục màu trắng (niêm phong kí hiệu M1). Ngoài ra còn quản lý của Đạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển số 89K9-2481, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám đã cũ.
Ngày 16/01/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M khám xét khẩn cấp nơi ở của Đạt tại thôn B, xã D, thị xã M, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản thông báo kết luận sơ bộ số 73/MT-PC09 ngày 16/01/2020, bản Kết luận giám định số 73/MT-PC09 ngày 19/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu M1, ghi thu của Nguyễn Tiến Đ, có khối lượng là 0,434g (Không phẩy bốn ba bốn gam), là ma túy, là loại Methamphetamine. Hoàn lại 0,376g (Không phẩy ba bẩy sáu gam) Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu M1 ghi thu của Nguyễn Tiến Đạt.
Quá trình điều tra Nguyễn Tiến Đ đã khai nhận: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 15/01/2020, Đ nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên gọi điện đến số thuê bao 0862625409 của một người Đ không quen biết để hỏi mua ma túy. Người này đồng ý và hẹn gặp Đ tại cầu Sặt thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Đ một mình điều khiển xe mô tô biển số 89K9-2481 đến khu vực cầu Sặt thì gặp một người đàn ông Đ không biết tên tuổi địa chỉ Đ hẹn từ trước, Đ đưa cho người này 300.000đ và cầm 01 gói ma túy để mang về sử dụng. Trên đường về thì bị lực lượng Công an phát hiện kiểm tra và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên. Lý do Đ có số điện thoại của người bán ma túy là do trước đó khoảng 1 tháng khi Đ ngồi uống nước tại khu vực thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, người đàn ông này tự cho Đ số điện thoại và nói nếu có nhu cầu sử dụng ma túy thì gọi cho người này.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã ra Lệnh thu giữ điện tín, xác định số thuê bao 0862625409 đăng ký mang tên chị Hà Thị D. Qua điều tra, chị D khai chị không đăng ký số thuê bao nói trên, không quen biết và có quan hệ mua bán gì với Nguyễn Tiến Đ.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 89K9-2481, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Kiều Văn T. Anh T cho Đ mượn nhưng không biết Đ sử dụng vào việc phạm tội. Ngày 20/01/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho anh T, anh T nhận lại và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với hành vi Đ khai mua ma túy của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ tại khu vực thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mỹ Hào đã thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám đã cũ (bên trong có 01 sim) thu giữ của Đ, Đ khai sử dụng vào việc liên lạc đi mua ma túy và Đ không có nhu cầu nhận lại.
Bản cáo trạng số 29/CT-VKSMH ngày 06 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
- Vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố.
- Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự.
- Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; đồng thời Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết các vần đề về vật chứng của vụ án, các biện pháp tư pháp, hình phạt bổ sung và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
/ Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp khách quan với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, của người làm chứng, của biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung của bản cáo trạng mà vị đại diện VKS đã nêu và đã có đủ cơ sở kết luận: “Vào hồi 21 giờ 40 phút ngày 15/01/2020, tại tổ dân phố Thịnh Vạn, phường Minh Đức, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Tiến Đ đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,434 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện...”. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Chỉ vì thói quen chơi bời, hưởng thụ và nghiện chất ma túy, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép trong người với mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, lây lan căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, là nguyên nhân làm hủy hoại sức khỏe, trí lực của con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc, kinh tế gia đình, là gánh nặng của gia đình và xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh những loại tội phạm khác. Hơn nữa loại ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng là chất ma túy đặc biệt nguy hiểm, gây ảo giác cho người sử dụng. Sau khi sử dụng loại ma túy này, người sử dụng không kiểm soát được hành vi và nhận thức dẫn đến những hậu quả khôn lường cho bản thân, gia đình và xã hội. Vì vậy nay cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.
Căn cứ vào tính chất nguy hiểm của loại tội phạm nói trên, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Có vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và cũng là bài học giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
* Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nay Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu xám đã cũ (bên trong có 01 sim) thu giữ của Đạt, Đạt khai sử dụng vào việc liên lạc đi mua ma túy. Vì vậy cần tịch thu sung công quỹ chiếc điện thoại nói trên.
- Cần tịch thu cho tiêu hủy chiếc sim điện thoại đã thu giữ nói trên.
- Chiếc xe môtô biển số 89K9-2481 là tài sản hợp pháp của anh Kiều Văn Tuấn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mỹ Hào đã trả lại chiếc xe mô tô nói trên cho anh Tuấn, anh Tuấn nhận lại và không có yêu cầu đề nghị gì. Vì vậy sẽ không đặt ra vấn đề giải quyết.
- Cần tịch thu cho tiêu hủy số ma túy Menthamphetamine do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 38 - Bộ luật Hình sự.
3/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; được trừ 02 (hai) ngày tạm giữ. Nay bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 01 (một) năm 02 (hai) tháng 28 (hai mươi tám) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
4/ Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
5/ Về xử lý vật chứng của vụ án và các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 46; điểm a,c khoản 1điều 47 - Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 điều 106
- Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịchthusungcôngquỹ Nhànướcchiếcđiện thoại diđộngnhãnhiệuIphone 6 màu xám đã cũ.
- Tịchthuchohủy bỏchiếcsim điệnthoạilắptheo chiếcđiệnthoạiIphone 6.
- Tịch thu cho tiêu hủy 0,376g (Không phẩy ba bẩy sáu gam) Methamphetamine trong niêm phong có số 73/MT – PC 09,21/CA Mỹ Hào do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định.
6/ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án theo quy định của pháp luật./ Nơi!nhận:
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M
- TAND tỉnh H;
| - VKSND tỉnh H; - VKSND thị xã M; - Công an thị xã M; - Chi cục THADS thị xã M; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN NAM THẮNG |