vanban.org

Bản án 31/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 14/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn B (H) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hà Văn B (H) 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn B (H) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HS-ST
Ngày 14/5/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƢNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nguyên và ông Lương Thường Tín

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thủy Quyên - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Đức Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Hà Văn B (tên gọi khác: H), sinh năm 1993.

HKTT: Bản A, xã B, huyện C, tỉnh Sơn La.

Chỗ ở: Thôn D, xã E, huyện G, tỉnh Hưng Yên

Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con ông Hà Văn T, sinh năm 1965 và bà Lường Thị T, sinh năm 1968;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị tạm giữ từ ngày 29/12/2019 đến ngày 01/01/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên, (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn B: Ông Phạm Đức Lăng - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên, (vắng mặt).

* Người chứng kiến:

- Anh Lê Xuân T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn H, thị trấn H, huyện G, tỉnh Hưng Yên, (vắng mặt).

- Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Thôn I, xã K, huyện G, tỉnh Hưng Yên, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 29/12/2019 tại khu vực chợ Như Quỳnh, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang Hà Văn B (tên gọi khác: H), về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi quần bên phải B đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu vinataba màu vàng, bên trong có 01 túi nilon chứa chất kết tinh màu trắng. Túi nilon chứa chất kết tinh màu trắng được niêm phong ký hiệu M; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave sơn màu xanh, biển kiểm soát 26D1- 30184.

Cùng ngày 29/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Văn B ở thôn D, xã E, huyện G, tỉnh Hưng Yên thu giữ: 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 nắp chai bằng nhựa màu xanh đục hai lỗ và gắn hai ống hút bằng nhựa; 01 mảnh giấy bạc; 04 ống hút bằng nhựa; 01 ống thủy tinh màu trắng, một đầu có hình quả cầu rỗng có lỗ thủng.

Tại Bản kết luận giám định số 51/MT-PC09 ngày 31/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu M thu của Hà Văn B là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 36,528 gam.

Quá trình điều tra, Hà Văn B khai nhận: Bản thân B nghiện chất ma túy đá, thường mua ma túy của người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ ở khu vực chợ Như Quỳnh, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên để sử dụng nhưng không nhớ cụ thể. Khoảng 12 giờ ngày 29/12/2019, B đi xe mô tô tìm gặp và mua của một người đàn ông trên 3.000.000 đồng ma túy đá để sử dụng dần, người đàn ông đưa cho B 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu vinataba màu vàng, bên trong có 01 túi nilon chứa ma túy đá, B mua xong ra về thì bị Công an bắt quả tang thu giữ số ma túy trên.

Đối với người đàn ông bán ma túy đá cho B ở khu vực chợ H, thị trấn H, huyện G, tỉnh Hưng Yên do B không biết chính xác tên tuổi địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ xác minh xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave sơn màu xanh, biển kiểm soát 26D1- 30184: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của anh Hà Văn T cho B mượn, anh T không biết việc Bích sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy. Ngày 10/01/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Tứ.

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKS-P1 ngày 31/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Hà Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hà Văn B nhận tội, khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn B từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo B. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá vinataba màu vàng; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 nắp chai bằng nhựa màu xanh đục hai lỗ và gắn hai ông hút bằng nhựa; 01 mảnh giấy bạc; 04 ống hút bằng nhựa; 01 ống thủy tinh màu trắng, một đầu có hình quả cầu rỗng có lỗ thủng; 01 que tet thử ma túy của Hà Văn B. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn B - Ông Phạm Đức Lăng - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên, vắng mặt. Ông L có gửi luận cứ bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1; 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự để tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo cải tạo bản thân, sớm được trở về với gia đình; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Hà Văn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 12 giờ 15 phút ngày 29/12/2019; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 13 giờ 10 phút ngày 29/12/2019; Bản Kết luận giám định số 51/MT-PC09 ngày 31/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên; phù hợp với lời khai của anh Lê Xuân T, anh Nguyễn Huy H là những người chứng kiến khi Cơ quan điều tra bắt, niêm phong đồ vật bị tạm giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 29/12/2019, tại khu vực chợ Như Quỳnh, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, Hà Văn B đang tàng trữ trái phép 36,528 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang.

Bị cáo Hà Văn B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ Luật hình sự quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 đến 15 năm:

a).................

b) Heroin. Cocaine, Methamphetamine .... có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Văn B là có căn cứ và đúng pháp luật.

.Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội; là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy xấu của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của chính bản thân người nghiện, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố tình tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, dành cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo Hà Văn B ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng chống tội phạm chung. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xem xét để xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, gia đình có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

.Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy loại Methamphetamine, hoàn lại sau giám định là hàng cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ bao thuốc lá vinataba màu vàng, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 nắp chai bằng nhựa màu xanh đục hai lỗ và gắn hai ông hút bằng nhựa, 01 mảnh giấy bạc, 04 ống hút bằng nhựa, 01 ống thủy tinh màu trắng, một đầu có hình quả cầu rỗng có lỗ thủng, que tet thử ma túy của Hà Văn B là những vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn B (H) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn B (H) 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/12/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, cho tiêu hủy: 01 niêm phong mặt trước ghi “Hoàn mẫu vật gửi giám định, tên mẫu vật Methamphetamine vụ Hà Văn B...”; 01 niêm phong mặt trước ghi “que tet thử ma túy của Hà Văn B...”; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu vinataba màu vàng; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 nắp chai bằng nhựa màu xanh đục hai lỗ và gắn hai ống hút bằng nhựa; 01 mảnh giấy bạc; 04 ống hút bằng nhựa; 01 ống thủy tinh màu trắng, một đầu có hình quả cầu rỗng có lỗ thủng.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKS-P1 ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên).

4. Về án phí: Bị cáo Hà Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ