vanban.org

Bản án 31/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 26/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 562/PC09 bên trong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Đình L phải nộp 200.000 (ha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 562/PC09 bên trong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HS-ST
Ngày 26-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh.

Bà Phạm Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Vương Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Đỗ Đình L (tức C), sinh ngày 16 tháng 10 năm 1974 tại H. Nơi cư trú: Số 42B/94 L, phường G, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình T và bà Trần Thị T (đều đã chết); tiền án: Án số 31 ngày 15/4/1998 Tòa án nhân dân huyện An Hải, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản công dân”; án số 83/HSST ngày 06/6/2003 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 30/10/2019, tạm giam từ ngày 02/11/2019; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 30/10/2019, Tổ công tác Công an phường Trại Cau, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số 31 Hàng Kênh, quận Lê Chân, Hải Phòng phát hiện Đỗ Đình L có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi kiểm tra, L đang ngồi ở vị trí ghế lái trong xe ô tô biển kiểm soát: 15A-275.18 ghi hãng taxi Hoa Phượng. Tiến hành kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại hốc để đồ của cánh cửa xe phía trước bên ghế lái của xe ô tô 01 gói giấy màu trắng và 01 gói giấy bạc bên trong đều chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Moring màu đỏ biển kiểm soát: 15A-275.18 và số tiền 600.000 đồng. Sau đó, Tổ công tác đã dẫn giải L cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Trại Cau lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 562/KLGĐ ngày 01/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng chứa trong 02 gói giấy thu giữ của Đỗ Đình L là ma túy, có khối lượng 0,4054 gam, là loại Heroin.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Đình L khai: L là lái xe taxi của Công ty Cổ phần Hoa Phượng. L được giao toàn quyền quản lý và chỉ có L được sử dụng chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Moring màu đỏ biển kiểm soát: 15A-275.18 của Công ty để chở khách. Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/10/2019, khi đang điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 15A-275.18 trên đường Lạch Tray thì L nảy sinh ý định mua ma túy sử dụng nên đi đến khu vực đường Hàng Kênh, đỗ xe trước cửa nhà số 31 Hàng Kênh, sau đó xuống xe đi bộ đến nhà ở cuối ngõ 11 Hàng Kênh (quá trình điều tra xác định là nhà số 19/11 Hàng Kênh) và đưa 400.000 đồng qua khe hở ở cánh cửa hỏi mua ma túy. Người trong nhà nhận tiền và đưa vào tay L 01 gói giấy màu trắng và 01 gói giấy bạc đều chứa Heroine. L cầm số ma túy ở tay trái, đi ra xe ô tô và cất giấu số ma túy vừa mua được tại hốc để đồ của cánh cửa xe phía trước bên ghế lái của xe thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ. Ngoài ra, L khai đã mua ma túy tại nhà số 19/11 Hàng Kênh 03 lần, mỗi lần mua từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, các lần mua L đều không nhìn thấy người bán ma túy và cũng không biết người đó là ai.

Xác minh tại Công an phường Trại Cau, chủ nhà số 19/11 Hàng Kênh là Trần Thị N, sinh năm 1950 sống cùng chồng là Phạm Xuân T, sinh năm 1946 và cháu là Phạm Thị Hà P, sinh năm 2014. Tiến hành khám xét nhà số 19/11 Hàng Kênh không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án. Chủ nhà Trần Thị N khai không quen biết Đỗ Đình L, tại nhà không có ai bán ma túy.

Xe ô tô con nhãn hiệu KIA màu đỏ, biển kiểm soát 15A-275.18 là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần H, địa chỉ: Số 40 Trần Quang Khải, quận Hồng Bàng, Hải Phòng. L là lái xe hợp đồng của Công ty và được giao quản lý, sử dụng, khai thác chiếc xe này một mình để phục vụ việc kinh doanh. Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1960 là đại diện của Công ty cho biết Công ty không biết việc L cất giữ trái phép ma túy trong xe.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố Đỗ Đình L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đỗ Đình L đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Đỗ Đình L từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định; số tiền 600.000 đồng thu giữ là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với xe ô tô nhãn hiệu KIA màu đỏ biển kiểm soát: 15A-275.18 thu giữ của bị cáo, xác minh chủ sở hữu là Công ty Cổ phần H, địa chỉ: Số 40 Trần Quang Khải, quận Hồng Bàng, Hải Phòng. Công ty không biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại tài sản trên cho Công ty.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Đỗ Đình L do không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, nội dung bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Thể hiện: Vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 30/10/2019, tại khu vực trước cửa nhà số 31 Hàng Kênh, quận Lê Chân, Hải Phòng, Đỗ Đình L đã có hành vi cất giữ 0,4054 gam Heroin để sử dụng và bị bắt quả tang nên đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.

Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đều chưa được xóa, bản thân là người nghiện ma túy, qua đó cho thấy bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tiền án đều chưa được xóa: Án số 31 ngày 15/4/1998, Tòa án nhân dân huyện An Hải, Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp tài sản công dân (thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng ngày 10/01/2020); án số 83/HSST ngày 06/6/2003, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (giá trị tài sản chiếm đoạt: 550.000 đồng; thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng vào ngày 10/01/2020). Nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là “thành khẩn khai báo”.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 600.000 đồng là tài sản riêng hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Đình L (tức C) 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30 tháng 10 năm 2019.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 562/PC09 bên trong đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định. Tiếp tục tạm giữ số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo. (Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 20/01/2020 và Biên lai thu tiền số 0004526 ngày 20/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Đình L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ