- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Tuân A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Vi Tuấn A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2020/HS-ST Ngày 08 - 7 - 2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Hồ Trọng Trung.
2, Ông Đàm Sông Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Vi Tuấn A, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1987, tại huyện V, tỉnh Lào Cai;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Chức vụ: Không; Đảng phái: Không; Tiền sự; Không; Tiền án: Không; Con ông: Vi Văn L, sinh năm 1964; Con bà: Hoàng Thị L, sinh năm 1965, hiện trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; Bị cáo có vợ Hoàng Huyền T, sinh năm 1987 (Đã ly hôn); Bị cáo có 01 con, sinh năm 2005. Trú tại: Thị Trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Nhân thân: Bản án số 194/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2012 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội, áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Vi Tuấn A 42 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2014, đã được xóa án tích.
Page | 1
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/3/2020 đến ngày 05/4/2020. Hiện được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
- Những người làm chứng:
1, Ông Hoàng Văn H, sinh năm: 1969. Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai.
2, Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai. Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 31/3/2020 tại thôn Đ, xã L, huyện V, tổ công tác đội cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Bàn phát hiện, bắt quả tang Vi Tuấn A đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, quá trình bắt quả tang Vi Tuấn A đã tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên trái đang mặc ra 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục giao nộp và khai là ma túy của Tuấn A để sử dụng, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng. Tiến hành khám xét chỗ ở của Vi Tuấn A nhưng không phát hiện và thu giữ gì.
Về nguồn gốc ma túy Vi Tuấn A khai: Sáng ngày 31/3/2020, Vi Tuấn A đến khu vực cổng uống thuốc Methadone Bệnh viện đa khoa huyện V gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy giá 500.000đ đem về để sử dụng, đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Bản kết luận giám định số 80/GĐMT ngày 03/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,60 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Vi Tuấn A ngày 31/3/2020 gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKS -VB ngày 29/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn truy tố Vi Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vi Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vi Tuấn A về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vi Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Page | 2
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Vi Tuấn A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự và 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vi Tuấn A khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Sáng ngày 31/3/2020, Vi Tuấn A đến khu vực cổng uống thuốc Methadone Bệnh viện đa khoa huyện V gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy giá 500.000đ, mục đích để sử dụng, đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị phát hiện bắt quả tang.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vi Tuấn A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như kết luận của kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Mặc dù bị cáo đã bị Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội, xử phạt 42 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2014, nên đã được xóa án tích. Do đó bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có mẹ là bà Hoàng Thị L được nhà nước tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp giáo dục, nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo Vi Tuấn A là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì riêng. Nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Page | 3
Về vật chứng vụ án gồm: 0,60 gam Heroine. Cơ quan giám định đã lưu mẫu 0,08 gam, còn lại 0,52 gam Heroine, cùng niêm phong cũ đã niêm phong cần tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Vi Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt Vi Tuấn A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, khi chấp hành án bị cáo được khấu trừ 05 (Năm) ngày tạm giữ.
Về tang vật: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,52 gam heroine đựng trong 01(Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên một mặt bì có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Vi Tuấn A ngày 31/3/2020 tại thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai”. Mặt sau có 02 chữ ký của người tham gia niêm phong và 03 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vi Tuấn A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Page | 4
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh LC(1); - VKSND(2); - Công an Văn Bàn(2); - Bị cáo (1); - T.H.A HS; T.H.A DS (2); - Trại giam LC(1); - STP LC (1); - Lưu HS, TP, LĐ (4). HỘI THẨM NHÂN DÂN Hồ Trọng Trung Đàm Sông Hƣơng | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trần Văn Nghĩa THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Page | 5 Trần Văn Nghĩa Page | 6 Page | 7 Page | 8 Page | 9 Page | 10 Page | 11 Page | 12 |