vanban.org

Bản án 31/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo bị cáo Quàng Văn H ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử ph t: Quàng Văn H 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (03-01-2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quang Van H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 31/2020/HS-ST
Ngày: 27-4- 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện; bà Cầm Thị Tươi.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2020, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 35/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 24/ 2020/QĐXXST-HS ngày 13-4-2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn N (đã chết) và con bà: Quàng Thị O; có vợ: Quàng Thị L và có 02 người con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1995; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 03-01-2020 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Quàng Thị L, sinh năm 1975, (vợ bị cáo). Trú t i: Bản Tre, xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 50 phút ngày 02-01-2020, tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã C làm nhiệm v t i bản H, xã C, Sông Mã kiểm tra phát hiện đối tượng Quàng Văn H có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng, H khai nhận là Heroine. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô hiệu Honda màu đen, lo i xe Wave α, có BKS 26C1 – 012.73, số khung RLHHC12179Y025899, số máy HC12E1225922, xe đã qua sử d ng.

Ngày 03/01/2020, t i Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành m niêm phong cân tịnh xác định khối lượng, kết quả: 01 c c chất bột liên kết màu trắng có tổng khối lượng là 0,20gam, sử d ng hết 0,20gam làm mẫu giám định ký hiệu H.

T i Kết luận giám định số 165 ngày 06/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy, lo i Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20gam, lo i Heroine.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 02/01/2020, Quàn Văn H điều khiển xe mô tô có gắn biển kiểm soát 26C1 – 012.73 từ nhà bản T, xã C đến bản L, xã P, huyện Mai Sơn để tìm mua ma túy sử d ng, khoảng 19 giờ H đến bản L vào nhà một người ph nữ dân tộc Mông không quen biết hỏi mua mua túy, người ph nữ đồng ý bán nên H lấy 100.000VNĐ ra đưa cho người này, người ph nữ nhận tiền rồi đi về phía giường ngủ một lúc sau quay ra đưa cho Hoa 01 gói nilon màu xanh, Hoa nhận rồi trích lấy một ít Heroine ra để sử d ng, sau đó H xin người ph nữ này 01 chiếc xilanh rồi cho Heroine vào pha với nước sử d ng bằng hình thức chích qua tĩnh m ch vào cơ thể, sử d ng xong H để chiếc xilanh l i nhà người này, số ma túy còn l i H cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về, trên đường về đến khu vực bản H, xã C thì bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Công an xã C kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo tr ng số: 33/CT-VKSSM ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Quàng Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t bị cáo từ 20 đến 24 tháng tù. Xét hoàn cảnh khó khăn, có giấy chứng nhận hộ nghèo nên miễn hình ph t bổ sung và án phí cho bị cáo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, bị cáo nhất trí và không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin được giảm nh hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội danh:

- Ngày 02-01-2020 bị cáo đã có hành vi đi mua ma túy về sử d ng thì bị bắt quả tang, tang vật bị thu giữ là chất ma tuý, lo i Heroin có khối lượng 0,20gam.

- T i phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của bị cáo c ng phù hợp với biên bản ph m tội qủa tang, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s để kết luận: Bị cáo đã ph m tội “Tàng trái phép chất ma tuý”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội ph m của Viện Kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi ph m tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an t i địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, cải t o, giáo d c và phòng ngừa chung.

4 Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, t i cơ quan Điều tra và t i phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nh được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp d ng cho bị cáo được hư ng.

Về số ma tuý thu giữ được trong v án: Bị cáo khai mua được của người ph nữ Mông không quen biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh điều tra m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.

6 Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda, lo i xe Wave α màu đen có BKS 26C1 – 012.73 t m giữ của bị cáo, qua điều tra xác định chiếc xe này có biển số thật là BKS 26K4- 0938, theo bị cáo khai biển số xe BKS 26K4- 0938 bị rơi mất, do chưa xin cấp l i biển số nên bị can lấy biển số BKS 26C1 – 012.73 của xe c c ng thuộc quyền s hữu của bị cáo lắp vào để dùng phương tiện đi l i cho thuận lợi, giấy tờ đăng ký xe mang tên bị cáo, chiếc xe này vợ chồng bị cáo mua từ năm 2008 với giá 13.800.000 VNĐ. Xét thấy chiếc xe mô tô này là tài sản chung của gia đình bị cáo nên cần xem xét trả l i.

Vật chứng v án còn l i gồm: ồm 01 vỏ phong bì thư bưu điện niêm phong vật chứng khi lập biên bản bắt người ph m tội quả tang đã bóc m , 01 mảnh nilon màu xanh là vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về đề xuất mức án của Kiểm sát viên t i phiên toà đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử cần xem xét, cân nhắc nhằm có mức án phù hợp.

[9 Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có giấy chứng nhận hộ nghèo nên miễn hình ph t bổ sung (là phạt tiền) và án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo bị cáo Quàng Văn H ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử ph t: Quàng Văn H 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (03-01-2020).

2. Vật chứng: p d ng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

- Tịch thu để tiêu hu : 01 (một) phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín; 01 (một) phong bì màu trắng của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong kín và 0,10gam Heroine còn l i sau giám địn.

- Trả l i cho bà Quàng Thị Lanh: 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, lo i Wave α, màu đen, BKS: 26C1012.73, số khung: RLHHC12179Y025899, số máy: HC12E1225922, xe đã c , hỏng nhiều chỗ và qua sử d ng.

(Toàn bộ vật chứng được mô tả, chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/3/2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: p d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự, điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ