- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vang Thị M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng Thị M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 31/2020/HS-ST Ngày 13-8-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Phốn
Ông Trịnh Xuân Phùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam-Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 13/8/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2020/TLST-HS ngày 14/7/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2020/QĐXXST-HS ngày 30/7/2020 đối với bị cáo:
Vàng Thị M (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1991 tại xã T, huyện Th, tỉnh L; Nơi cư trú: Bản N, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A Ph (sinh năm 1962) và bà Giàng Thị Ch (sinh năm 1964); Bị cáo không có chồng, có 01 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2020 đến ngày 29/5/2020; cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/5/2020 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 19/5/2020,Vàng Thị M một mình đi bộ tìm mua thuốc phiện về sử dụng, đi đến bản H, xã Ch thì xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông lạ mặt đến bản Đ, xã Ch. Sau đó M tiếp tục đi bộ đến N, xã Ch, đến khoảng 22 giờ cùng ngày M mua được 03 gói thuốc phiện của một người đàn ông dân tộc Hà Nhì lạ mặt với giá 2.000.000 đồng tại khu vực lán nuôi trâu bò bỏ hoang thuộc bản N, xã Ch. Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu M không rõ, còn M cất giấu số thuốc phiện mua được vào trong chiếc túi vải đen đeo trên người và ngủ qua đêm tại lán bỏ hoang đó, sáng hôm sau mới về. Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 20/5/2020 M trên đường quay về đến đầu bản N xã Ch thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng Leng Su Sìn phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số thuốc phiện và 01 túi vải màu đen trên người M. M khai nhận mục đích mua thuốc phiện về sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 456/GĐ-PC09 ngày 30/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nấu đen gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Vàng Thị M là thuốc phiện; Khối lượng vật chứng thu giữ của Vàng Thị M là 130,19 gam.
Cáo trạng số 37/CT-VKS-MN ngày 14/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Vàng Thị M để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án; căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai: Ngày 19/5/2020 bị cáo mua được 130,19 gam thuốc phiện của một người đàn ông dân tộc Hà Nhì lạ mặt với giá 2.000.000 đồng tại bản N, xã Ch, huyện M, hồi 18 giờ 40 phút khi đang trên đường quay về thì bị bắt quả tang. Bị cáo khai bị cáo mua thuốc phiện với mục đích để sử dụng vì bản thân nghiện ma túy. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định, kết luận điều tra, cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm bkhoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 37/CT-VKS-MN ngày 14/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Xét đề nghị của viện kiểm sát là có căn cứ, hợp pháp nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát.
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Đối với đối tượng người đàn ông dân tộc Hà Nhì đã bán thuốc phiện cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với người đàn ông đã cho bị cáo đi nhờ xe máy, bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này nên không có cơ sở xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 112,03 gam thuốc phiện còn lại sau khi đã trích giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc túi vải màu đen đã cũ, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Vàng Thị M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Vàng Thị M 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là 09 (chín) ngày.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 112,03 gam thuốc phiện và 01 túi vải màu đen. Chi tiết các vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/7/2020 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Thị M.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TAND tỉnh Điện Biên); - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Nhung Dƣơng Thị Nhung |