vanban.org

Bản án 31/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 29/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn B 02 (hai) năm tù giam, thêi h¹n chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/01/2020. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn Bình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HS-ST
Ngày 29/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.

- Các hội thẩm nhân dân: 1, Ông Lê Đình Cự.

2, Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/HSST-QĐ ngày 15/4/2020 đối với bị cáo:

Vũ Văn B (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29/4/1982, tại xã T, huyện H, Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Vũ Mạnh T, sinh năm 1947 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1949.

Gia đình có 6 anh, chị em bị cáo là con thứ tư.

Vợ con: Chưa có.

+ Tiền án (01 tiền án): Tại bản án số 103/2017/HSST ngày 30/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội: Hủy hoại tài sản. B chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2018, đã thi hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/9/2018.

+ Tiền sự: Không.

+ Nhân thân:

- Ngày 23/4/2003 phạm tội: “Cướp tài sản”, Bản án số 120 ngày 08/9/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt Bình 3 năm tù, án phí 100.000 đồng, bồi thường bị hại 150.000 đồng.

- Bản án số 1668/PTHS ngày 24/11/2003 của Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội bác đơn kháng cáo của B. B được đặc xá và chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/3/2005, chấp hành xong án phí ngày 30/7/2009. Đối với khoản tiền bồi thường bị hại 150.000 đồng, qua xác minh tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình thể hiện bị hại không có đơn, không có quyết định thi hành án.

- Ngày 24/4/2011 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, bản án số 73/2012/HSST ngày 20/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 9 tháng tù. Bình chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/02/2013. Theo bản án B phải chấp hành sung công quỹ 100.000 đồng, án phí hình sự 200.000 đồng, đã chấp hành xong tháng 12 năm 2012.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2020, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Vũ Văn H, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Trú tại: thôn N, xã T, huyện Hưng Hà, Thái Bình.

* Người chứng kiến:

1, Anh Trần Duy T, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn H, xã L, huyện Đông Hưng, Thái Bình.

2, Ông Đỗ Xuân I, sinh năm 1955 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn P, xã L, huyện Đông Hưng, Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn B là người sử dụng ma túy, loại hêrôin. B nghe một số người nghiện (không rõ tên tuổi địa chỉ) nói tại khu vực quán cà phê H ở xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có một người đàn ông tên S (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) khoảng 35 tuổi, cao khoảng 1,65 mét có bán ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 14/01/2020, B mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 17B4-102.01 của anh Vũ Văn H nói đi có việc. Sau đó, B điều khiển xe mô tô đến quán cà phê H để tìm gặp người đàn ông tên S mua ma túy. Khi đến nơi, B vào quán thì gặp người đàn ông có đặc điểm như mô tả. Khi gặp nhau, B hỏi người này mua 370.000 đồng ma túy, người này đồng ý. B lấy tiền đưa cho người đàn ông trên, người này đưa lại cho B 2 gói ma túy được gói bằng nilon màu đen và 1 bơm kim tiêm, 1 ống novocain. B cho 2 gói ma túy cùng 1 bơm kim tiêm, 1 ống novocain vào túi áo khoác bên trái đang mặc để đi về nhà sử dụng. Khi B đang đi trên đường trục xã thuộc thôn H, xã L thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang. Công an huyện Đông Hưng đã mời người chứng kiến, tiến hành khám xét người B, thu tại túi áo khoác bên trái B đang mặc có 1 bơm kim tiêm, 1 ống novocain chưa qua sử dụng và 2 gói mỗi gói kích thước khoảng (0,5x1) cm đều được gói bằng nilon màu đen, lượt tiếp theo được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục, B khai nhận đó là hêrôin mua về để sử dụng. Quản lý của B 01 xe mô tô biển kiểm soát 17B4-102.01, kiểm tra xe mô tô B điều khiển không quản lý, thu giữ gì. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu và đưa B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng để giải quyết.

Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn B tại thôn N, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình không quản lý thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 29/KLGĐ-PC09 ngày 16/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật thu của Vũ Văn B gửi giám định là ma túy, loại heroine (hêrôin), có khối lượng là 0,1479 gam”.

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 29/CT-VKSĐH ngày 26/3/2020 đã truy tố, hành vi của bị cáo Vũ Văn B đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về áp dụng pháp luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị tuyên phạt bị cáo Vũ Văn B từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù giam và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Ngoài ra còn đề nghị HĐXX giải quyết về vật chứng, án phí của vụ án.

Bị cáo Vũ Văn B nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các quy định của pháp luật giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 14/01/2020; Kết luận giám định số 29/KLGĐ-PC09 ngày 16/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của người chứng kiến anh Trần Duy T và ông Đỗ Xuân I cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

[2.1] Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 14/01/2020, tại khu vực trục đường thôn H, xã L, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, bị cáo Vũ Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,1479 gam ma túy, loại hêrôin với mục đích để sử dụng bị Công an huyện Đông Hưng bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Vũ Văn B đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. ........................................................”.

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ: Đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Ma tuý còn là nguồn gốc phát sinh các loại bệnh tật ảnh hưởng đến giống nòi và thuần phong mỹ tục của dân tộc, kéo theo sự xuống cấp của đạo đức xã hội là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác.

[2.3] Khi xem xét, cân nhắc hình phạt cần xem xét đến tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ:

- Bị cáo Vũ Văn B có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; Bố đẻ bị cáo bị tâm thần được hưởng chế độ bảo trợ xã hội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tại phiên tòa là phù hợp.

[2.4] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo Vũ Văn B tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2.5] Trong vụ án này:

- Về nguồn gốc số ma túy: Bình khai mua của một người đàn ông tên S khoảng 35 tuổi (không rõ họ tên tuổi địa chỉ cụ thể) tại khu vực quán cà phê H ở xã M, huyện Đông Hưng. Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng đã tiến hành xác minh, bà Bùi Thị L, sinh năm 1967, trú tại thôn L, xã M, huyện Đông Hưng (là chủ quán cà phê H) xác định: tại quán cà phê không có ai tên là S, ngày 14/01/2020 không chứng kiến có việc mua bán, trao đổi nào tại quán cà phê; Chính quyền địa phương xã M cung cấp: tại địa phương không có ai tên là S có đặc điểm như B mô tả. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý.

- Nguồn gốc số tiền 370.000đồng bị cáo dùng mua ma túy do lao động mà có nên không truy thu.

[3] Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy: 0,1054 gam ma túy hoàn trả lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm và 01 ống novocain chưa qua sử dụng thu của bị cáo Vũ Văn B, toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 27/3/2020.

- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 17B4-102.01 qua điều tra, xác minh là xe mô tô của anh Vũ Văn H, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Việc Bình sử dụng xe đi mua ma túy, anh H không biết, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh H cần được chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo Vũ Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn B có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Vũ Văn B 02 (hai) năm tù giam, thêi h¹n chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/01/2020.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn Bình.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy: 0,1054 gam ma túy hoàn trả lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm và 01 ống novocain chưa qua sử dụng thu của bị cáo Vũ Văn B, toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 27/3/2020.

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng đã trả lại cho anh Vũ Văn H, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 01 xe mô tô biển kiểm soát 17B4-102.01.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Bị cáo Vũ Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. N¬i nhËn:

Cỡ chữ