vanban.org

Bản án 31/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 10/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), nộp vào ngân sách Nhà Nước. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HS - ST
Ngày 10 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tráng

Ông Phạm Văn Ngài

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2020/TLST - HS, ngày 16 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2020/QĐXXST – HS, ngày 27 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 (Có mặt).

Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp làm thuê; trình độ học vấn lớp 4; dân tộc kinh; giới tính Nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Phạm Thị Bé B; vợ Lâm Lệ T; con có 02 người, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2007; tiền án không; tiền sự 01 lần, vào ngày 19/6/2019, Nguyễn Văn T bị Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/4/2020 đến nay.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Minh C, sinh năm 1984 (yêu cầu xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh

2. Ông Trương Văn Cư, sinh năm 1981 (vắng mặt không có lý do)

Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh

3. Ông Phạm Văn N, sinh năm 1987 (vắng mặt do bỏ nơi cư trú)

Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh

4. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987 (Yêu cầu xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh

5. Ông Phạm Văn P, sinh năm 1976 (Yêu cầu xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 19/12/2019, Nguyễn Văn T cùng ông Lê Minh C, sinh năm 1984; ông Phạm Văn N, sinh năm 1987; ông Trương Văn Cư, sinh năm 1981 và ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987 cùng cư trú ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, đến nhà hoang của bà Phạm Thị Lùng E tọa lạc tại ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh đánh bạc trái phép dưới hình thức được thua bằng tiền. Tại đây, T, ông C, ông N, ông Cư và ông Th thống nhất tiến hành đánh bài cách tê, chia làm 05 tụ, mỗi tụ 6 lá của bộ bài 52 lá, thỏa thuận 01 chiếc đũa tre tương ứng với số tiền 20.000 đồng. Việc thắng thua của những người ngồi cùng tụ được thỏa thuận như sau: mỗi tụ bài đặt ra 01 chiếc đũa tre trong mỗi ván chỉ có 01 người thắng, nếu ai thắng thì rút 01 chiếc đũa tre hoặc 02 chiếc đũa tre nếu thắng đúp (đánh cho 04 tụ còn lại rụt tùng), khi nào hết 05 chiếc đũa tre thì tính tiền thắng thua và chơi tiếp vòng mới, kết quả mỗi vòng người nào có 01 chiếc đũa tre là hòa (không thắng, không thua), người không có đũa là người thua cuộc và phải chung số tiền 20.000 đồng cho người có từ 02 chiếc đũa trở lên. Nguyễn Văn T, ông Lê Minh C, ông Phạm Văn N, ông Trương Văn Cư và ông Nguyễn Văn Th đánh bạc khoảng 10 vòng. Đến 14 giờ 20 phút, Công an xã T, huyện C tiến hành kiểm tra thì phát hiện các đối tượng đánh bạc trái phép gồm Nguyễn Văn T, ông Lê Minh C, ông Phạm Văn N, ông Trương Văn Cư và ông Nguyễn Văn Th và thu giữ tang vật tại chiếc bạc theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT -VKSCL, ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T, hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện C, và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 19/12/2019 tại nhà hoang của bà Phạm Thị Lùng E tọa lạc ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nhà không có người ở, do bà Lùng E chết), bị cáo cùng ông Lê Minh C, ông Phạm Văn N, ông Trương Văn Cư và ông Nguyễn Văn Th đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài cách tê được thua bằng tiền. Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 2.150.000 đồng; trong khi đó vào ngày 19/6/2019 bị Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng, về tội Đánh bạc. Ngoài ra, vị còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Qua quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận. Bị cáo Nguyễn Văn T không có lời nói sau cùng, mặc dù đã được Hội đồng xét xử cho ý kiến phát biểu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời vị đại diện Viện kiểm sát và bị cáo Nguyễn Văn T yêu cầu tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, vì không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3]. Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra Công an huyện C thu thập có được.

Do vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp với qui định của pháp luật, không oan, không sai.

[4]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bởi vì, việc đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc trái pháp luật bị Nhà nước nghiêm cấm, được quy định trong Bộ luật hình sự. Bị cáo là người đã trưởng thành có đủ nhận thức những quy định của pháp luật, kiến thức xã hội và người có sức khỏe để lao động, nhưng không lo chí thú làm ăn, chỉ vì muốn thu lợi bất chính, không cần bỏ ra công sức lao động, tìm mọi cách để che dấu hành vi phạm tội đối với các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương và các cơ quan thực thi pháp luật, nhằm thực hiện hành vi đánh bạc. Bản thân bị cáo đã có gia đình, đáng lý ra phải lao động chân chính để lo cuộc sống gia đình, là tấm gương tốt đối với gia đình và xã hội, nhưng ngược lại bị cáo có hành vi, vi phạm pháp luật, trong khi đó vào ngày 19/6/2019 bị Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc trái phép.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 159/QĐXPVPHC, ngày 19/6/2019, của Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh, đối với Nguyễn Văn T số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc trái phép là đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Đáng lẻ ra bị cáo phải biết ăn năng hối cải để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đàng này bị cáo lại tiếp tục vi phạm. Cụ thể vào ngày 19/12/2019 bị cáo đã trực tiếp đánh bạc trái phép, ăn thua bằng tiền với các con bạc với số tiền thu tại chiếu bạc là 2.150.000 đồng; vì vậy lần vi phạm này của bị cáo Nguyễn Văn T đã cấu thành tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[5]. Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đánh bạc của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sinh sống của nhân dân; thực tế, đánh bạc thua bằng tiền là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân của sự đói nghèo, dẫn đến nhiều loại tội phạm khác bị pháp luật nghiêm cấm. Từ việc tham gia đánh bạc mà nhiều con bạc đã lâm vào cảnh nợ nần, kinh tế khó khăn, gia đình phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gây ra sự đói nghèo, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

[6] Nhằm làm giảm bớt những tệ nạn xã hội, góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử cần phải xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo và tính chất của vụ án.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền xát phạt ăn thua không lớn, bản thân bị cáo đánh bạc trái phép không phải vì mục đích lợi nhuận phục vụ kinh tế mà là ham vui, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình có phần đơn chiếc. Đây là những căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Vì vậy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Do đó ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7]. Đối với hành vi của ông Lê Minh C, ông Phạm Văn N, ông Trương Văn Cư và ông Nguyễn Văn Th không đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc, đã bị cơ quan điều tra Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính. Riêng ông Phạm Văn P không tham gia đánh bạc nên không xử lý.

[8]. Về vật chứng: 02 bộ bài tây, 104 lá đã qua sử dụng; 05 chiếc đũa tre, là tang vật của vụ án tịch thu tiêu hủy. Tiền Việt Nam 550.000 đồng dùng vào đánh bạc trái phép, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím, màu đen của ông Trương Văn Cư và 01 điện thoại di động hiệu Philips, màu đen, không có thẻ sim của bị cáo, không liên quan đến việc đánh bạc, giao trả cho ông Trương Văn Cư và bị cáo Nguyễn Văn T.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), nộp vào ngân sách Nhà Nước.

2. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tây, 104 lá đã qua sử dụng và 05 chiếc đũa tre.

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Số tiền VNĐ 550.000 đồng.

- Giao trả cho ông Trương Văn Cư 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA đã qua sử dụng, màu đen số IMEL: 355763103324418.

- Giao trả bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động hiệu Philips đã qua sử dụng, màu đen, không có thẻ sim trong máy.

3. Về n h : Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày án sơ thẩm tuyên. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú.

(Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

Cỡ chữ