vanban.org

Bản án 31/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản

2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt: Ngô Hoàng L 02 (Hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 31/2020/HS-ST Tuyên án 09/11/2020
Phúc thẩm Bản án 62/2021/HS-PT Tuyên án 01/02/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIỜ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HS-ST
Ngày: 09-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Lộc

2. Bà Lê Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Quyên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần

Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số

36/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số 37/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2020, đối với bị cáo:

Ngô Hoàng L, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1996; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang;

Hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh D; Chỗ ở: Tổ E, khu phố F, thị trấn

G, huyện H, Thành phố I; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 03/12; Dân

tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô

Văn T, sinh năm 1972 và bà Bùi Thị M, sinh năm 1969; Anh, chị, em: có 01

người em sinh năm 2001; có vợ: Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm: 1996; có 01 con

sinh năm 2019;

Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định số XXX/QĐ-UBND ngày XX/XX/XXXX của Ủy

ban nhân dân huyện C áp dụng biện pháp đưa vào Trường Giáo dưỡng với thời

hạn 24 tháng vì có hành vi hiếp dâm trẻ em.

Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1968 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 425/2 khu phố L, thị trấn G, huyện H, Thành phố I.

- Người làm chứng:

1. Bà Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm 1996 (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ E, khu phố F, thị trấn G, huyện H, Thành phố I.

2. Ông Sầm Văn C, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 73 Tổ M, khu phố N, thị trấn G, huyện H, Thành phố I.

3. Bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 73 Tổ M, khu phố N, thị trấn G, huyện H, Thành phố I.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 4/2020 giữa Ngô Hoàng L và cha dượng của vợ là ông

Nguyễn Việt H, sinh năm: 1968, hộ khẩu thường trú 425/2 khu phố L, thị trấn G, huyện H, Thành phố I xảy ra mâu thuẫn cự cãi và thách thức đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 06/5/2020, L đang dự đám giỗ ở nhà hàng xóm thì vợ là chị Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm: 1996, Tổ E, khu phố F, thị trấn G, huyện H đến kêu về để chuẩn bị đi làm muối. L bực tức đi về nhà kiếm chuyện gây gỗ với chị T, rồi nhớ lại mâu thuẫn với ông H nên nói “ tao vào vườn kiếm ông H để đánh”, nói xong L đi ra sau nhà lấy 01 cây kiếm và điều khiển xe mô tô chạy về hướng khu đất thuộc Tổ E, khu phố F, thị trấn G nơi ông H đang giữ đất dùm cho người khác. Lúc này chị T gọi điện báo cho mẹ ruột biết rồi lấy xe đạp chạy theo L, trên đường đi L cất giấu kiếm vào bụi cây và điều khiển xe chạy quanh khu đất để tìm ông H nhưng không thấy, nên đến đám giỗ nhậu tiếp. Khoảng 15 phút sau chị T đi bộ đến kêu L về, sau đó quay lại để lấy xe đạp. L về nhà không thấy vợ nên điều khiển xe đi đến bụi cây lấy kiếm rồi đi vào khu đất nơi ông Hải giữ vườn, tại đây L cầm kiếm đi bộ đến trước nhà và lên tiếng nói “ông muốn gì ra đây”, lúc này bên hông nhà có ông H, chị T và vợ chồng ông Sầm Văn C (là cậu mợ của chị T), ông C lên tiếng can ngăn thì bị L dọa chém nên bỏ đi, L cầm kiếm xông đến chém ông H, ông H lùi lại lấy 01 khúc cây để tự vệ nhưng bị trúng nhiều nhát vào tay và chân gây thương tích, ông H cầm khúc cây đánh vào tay L khiến cây kiếm rơi xuống. Sau khi được can ngăn, ông H được đưa đến bệnh viện cấp cứu và điều trị.

Hậu quả ông Nguyễn Việt H bị thương tích ở tay và chân được chuyển đến

bệnh viện Chấn thương chỉnh hình điều trị đến ngày 11/5/2020 thì xuất viện.

Ngày 18/5/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giờ ra Quyết

định trưng cầu giám định thương tích đối với ông Nguyễn Việt H.

Tại bản kết luận giám định số XXX/TgT.19 ngày 16/7/2020 của Trung tâm

pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 29%. Các vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

Ngô Hoàng L đã tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí điều trị theo yêu cầu

của ông Nguyễn Việt Hải là 16.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra L có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Vật chứng vụ án thu giữ: 01cây kiếm bằng kim loại màu trắng, dài 73 cm, lưỡi

dài 52 cm rộng 03cm mũi nhọn, cán dài 21cm quấn vải màu tím; 01 khúc cây bằng

gỗ tròn, dài 52 cm, đường kính lớn nhất 04cm, đường kính nhỏ nhất 03cm.

Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ

theo Quyết định chuyển vật chứng số 31 ngày 16/10/2020 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Cần Giờ.

Bản cáo trạng số: XX/CT-VKS ngày 16 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố bị cáo Ngô Hoàng L về tội “Cố ý gây

thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự Bộ luật hình

sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên

quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2

Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử

phạt bị cáo Ngô Hoàng L mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và bị cáo đã thỏa thuận giải quyết xong nên

không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ

sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp

luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như

nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát

viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và

trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho

bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần

Giờ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong

quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo

quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị

hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội

dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai

trong giai đoạn điều tra và lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên

bản thu giữ vật chứng, biên bản niêm phong vật chứng và các tài liệu khác có

trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/5/2020, Ngô Hoàng L đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là cây kiếm chém trúng vào tay và chân ông Nguyễn Việt H gây thương tích với tỉ lệ 29%. Hành vi của Ngô Hoàng L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Ngô Hoàng L là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đủ

năng lực về mọi mặt để nhận thức được hành vi “Cố ý gây thương tích” là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khoẻ của công dân, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định trong Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: giữa bị cáo và người bị hại có

mâu thuẫn trước đó nên bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Do đó không áp dụng tình tiết tiết tăng nặng phạm tội có tính chất côn đồ đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như

tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; Bị hại có đơn xin bãi nại; Bản thân bị cáo là lao động chính để nuôi vợ và con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin bãi nại cho hành

vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại vắng mặt tại phiên toà, tuy

nhiên trong quá trình điều tra đã thoả thuận được với bị hại về mức bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi,

bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 cây kiếm bằng kim loại màu trắng, dài 73 cm, lưỡi dài 52 cm, rộng 03cm

mũi nhọn, cán dài 21cm quấn vải màu tím; 01 khúc cây bằng gỗ tròn, dài 52 cm, đường kính lớn nhất 04cm, đường kính nhỏ nhất 03cm là vật không có giá trị sử dụng xét tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp

luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản

2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Ngô Hoàng L 02 (Hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời

hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo để chấp hành án.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi,

bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kiếm bằng kim loại màu trắng, dài 73 cm, lưỡi dài 52

cm, rộng 03cm, mũi nhọn, cán dài 21cm quấn vải màu tím; 01 khúc cây bằng gỗ

tròn, dài 52 cm, đường kính lớn nhất 04cm, đường kính nhỏ nhất 03cm.

[3] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là

200.000 đồng.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo

trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có

quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án

được niêm yết.

[5] Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi

hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ

sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi

hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nôi nhaän:

Cỡ chữ