- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? 1/Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND TP. PHAN THIEÁT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:31/2020/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2020. Về việc “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xử án gồm:
Chủ tọa phiên tòa- Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thanh Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Đỗ Văn Hòa
2. Ông Nguyễn Văn Đô
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Nhàn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 235/2020/TLST-HNGĐ ngày 21/5/2020 “V/v: Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2020, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy M, sinh năm: 1964 (có mặt).
-Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N, sinh năm: 1963 (vắng mặt). Cùng địa chỉ: Khu phố 01, phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông N tự tìm hiểu, quen biết nhau và chung sống với nhau vào 1987 nhưng đến năm 2013 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng năm 2016 đến nay thì vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bản thân bà làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần; nhưng sau đó con cái đã hỗ trợ trả hết nợ rồi nhưng ông N cứ vịn vào đó thường xuyên uống rượu về nhà gây sự với bà. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N.
Về con chung: có 03 con chung là Huỳnh Thị Ý N1 (nữ), sinh năm 1988, Huỳnh Thị H (nữ), sinh ngày 02/12/1991 và Huỳnh Văn N2 (nam), sinh ngày: 23/6/1994. Hiện các con đã trưởng thành và có khả năng lao động.
Về tài sản chung và nợ chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bà M trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để chung sống với nhau được.
*Tại bản ghi lời khai của bị đơn ông Huỳnh Văn N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà M tự tìm hiểu, quen biết nhau và chung sống với nhau vào 1987 nhưng đến năm 2013 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là tính cách và lối sống khác biệt nhau. Nay bà M làm đơn xin ly hôn thì ông cũng đồng ý vì tình cảm vợ chồng không còn, không thề chung sống với nhau hạnh phúc được. Nhưng ông bận công việc đi biển nên không có thời gian đến Tòa án để giải quyết được, ông đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
Về con chung: có 03 con chung là Huỳnh Thị Ý N1 (nữ), sinh năm 1988, Huỳnh Thị H (nữ), sinh ngày 02/12/1991 và Huỳnh Văn N2 (nam), sinh ngày: 23/6/1994. Hiện các con đã trưởng thành và có khả năng lao động.
Về tài sản chung và nợ chung: ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ việc đã được hòa giải nhưng không thành do ông N không đến Tòa án.
Sau khi những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bị đơn có đơn đề xin xét xử vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: về quan hệ hôn nhân bà M được ly hôn với ông N; Về con chung: các ccon đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự thủ tục tố tụng : Bị đơn ông Huỳnh Văn N cư trú tại khu phố 01, phường H, thành phố Phan Thiết, Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy M về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Ông Huỳnh Văn N đã được Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết triệu tập hợp lệ lần thứ nhất đến phiên tòa nhưng ông N vắng mặt và có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt ông. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thúy M và ông Huỳnh Văn N là hợp pháp vì ông bà kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 99/2013 quyển số 01/2012 ngày 02/12/2013.
Quá trình chung sống của vợ chồng ông N, bà M nhận thấy: Sau kết hôn thời gian đầu vợ chồng ông bà chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 2016 trở lại đây ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà M làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần. Tại phiên tòa, bà M đã xác định có hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không có hiệu quả, hơn nữa mỗi lần xảy ra mâu thuẫn thì ông N lại có hành vi bạo hành đối với bà.
Ông Nguyễn Văn N cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để chung sống với nhau hạnh phúc được. Bà M xin ly hôn thì ông cũng đồng ý.
Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay, mặc dù tòa đã kiên trì hòa giải đoàn tụ, nhưng không có kết quả. Bà M giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Như vậy căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, kết quả hòa giải và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Nhận thấy vợ chồng ông N, bà M có mâu thuẫn xảy ra và thực trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng không được đảm bảo.
Từ những nhận định trên yêu cầu xin ly hôn của bà M đã thỏa mãn điều kiện quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cơ sở kết luận yêu cầu ly hôn của bà Mai là chính đáng, phù hợp với các căn cứ qui định pháp luật.
- Về con chung: có 03 con chung là Huỳnh Thị Ý N1 (nữ), sinh năm 1988,Huỳnh Thị H (nữ), sinh ngày 02/12/1991 và Huỳnh Văn N2 (nam), sinh ngày: 23/6/1994. Hiện các con đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí : bà Mai phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2/ Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy M.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy M được ly hôn với ông Huỳnh Văn N.
- Về con chung: Ông bà khai có 03 con chung là Huỳnh Thị Ý N1 (nữ), sinh năm 1988, Huỳnh Thị H (nữ), sinh ngày 02/12/1991 và Huỳnh Văn N2 (nam), sinh ngày: 23/6/1994. Hiện các con đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: ông bà không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
3/ Án phí : Bà Nguyễn Thị Thúy M nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Bà M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007515 ngày 21/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận : -Tòa án Tỉnh; -VKS Tp.Phan Thiết; -Chi cục THADS Tp. Phan Thiết; - UBND phường Hưng Long; -Đương sự; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thanh Hòa |