vanban.org

Bản án 31/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hôi quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TH
TỈNH TH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 31/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 12/06/2020
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH - TỈNH TH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Ông Trần Tuấn Hưởng

Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố TH: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 06 năm 2020 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 935/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐST- HNGĐ, ngày 04 tháng 05 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1992(Có mặt)

HKTT: Xóm Đức Hòa, xã Thịnh Đức, TPTH, tỉnh TH.

Tạm trú: Tổ 04, phường Cam Giá, thành phố TH, tỉnh TH

Bị đơn: Anh Đào Xuân D, sinh năm 1988

HKTT: Xóm Đức Hòa, xã Thịnh Đức, TPTH, tỉnh TH. (Anh D vắng mặt

lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày: Chị và anh Đào Xuân D kết hôn năm 2011, trước khi kết hôn hai bên có được tìm hiểu việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và đăng ký kết hôn tại UBND xã Thịnh Đức, thành phố TH. Quá trình chung sống, anh chị có 03 con chung là Đào Đỗ Minh Tâm, sinh ngày 08/03/2012; Đão Đỗ Tâm A, sinh ngày 29/12/2015; Đào Khánh L, sinh ngày 22/11/2016. Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ H phúc, sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, quan điểm sống không phù hợp. Anh D thường xuyên chơi bời, rượu chè, cờ bạc không chịu làm ăn giúp đỡ vợ con. Khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không cải thiện được, nên chị H và anh D đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay, chị đã đưa 03 con về nhà bố mẹ đẻ , không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh D.

Về con chung: Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung, không yêu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị H tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân thành phố TH đã gửi thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập cho anh Đào Xuân D đến Toà án viết bản tự khai và tham gia tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh D không đến Tòa án giải quyết theo quy định. Toà án đã tiến hành xác minh với Công an xã Thịnh Đức, thành phố TH về việc anh D hiện vẫn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, chưa cắt khẩu đi đâu.

Tòa án cùng chính quyền địa phương tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh D vẫn không đến Tòa án để viết bản tự khai cũng như tham gia tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hòa giải cho chị Hanh và anh D, nhưng anh D mặc dù đã được triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án, đến nay chị H vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là xin ly hôn anh D, Tòa án không tiến hành hòa giải được với các bên đương sự , vì vậy vụ án phải đưa ra xét xử công khai tại phiên toà hôm nay.

Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa lần 1, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên tòa lần 2 cho anh D tại địa phương để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, tuy nhiên anh D vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu được ly hôn với anh D, yêu cầu được nuôi cả ba con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn đã không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Chị Đỗ Thị H và anh Đào Xuân D kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương, được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn vợ chồng bất đồng quan điểm sống, do tính cách không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã, cả hai sống ly thân từ năm 2018 đến nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn với anh D. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho chị H được ly hôn anh D là phù hợp Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Đào Đỗ Minh T, sinh ngày 08/03/2012; Đào Đỗ Tâm A, sinh ngày 29/12/2015; Đào Khánh L, sinh ngày 22/11/2016. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Xét con lớn của chị H có nguyện vọng được ở với chị; 02 con sau còn nhỏ , anh D không có mặt tại phiên tòa nên đề nghị chấp nhận cho chị Hanh được nuôi cả ba con chung.

Tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định không có, chị H không có lời khai về tài sản chung, nợ chung, và không xuất trình chứng cứ chứng minh tài sản chung, nợ chung nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp Hôn nhân và gia đình được quy định tạo Điều 28, Điều 35 BLTTDS năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TH.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa cho anh D theo đúng quy định tại Điều 177 BLTTDS năm 2015. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh D đến phiên tòa công khai lần thứ 2 nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt anh D tại phiên tòa.

. Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H kết hôn với anh Đào Xuân Dung năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thịnh Đức, thành phố TH , tỉnh TH là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Lý do chị H xin ly hôn anh D là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ lẫn nhau, chị đã sống ly thân anh D từ năm 2018 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ không mang lại H phúc cho cả hai bên, chị đề nghị được ly hôn với anh D để giải phóng cho nhau. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh D đã thực sự trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn anh D là phù hợp thực tế và Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Đào Đỗ Minh T sinh ngày 08/03/2012; Đào Đỗ Tâm A, sinh ngày 29/12/2015; Đào Khánh L, sinh ngày 22/11/2016. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Hiện cả ba con chung đang ở với chị H, chị H có nơi ở và có thu nhập ổn định, anh D vắng mặt tại phiên tòa nên giao cả ba con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con trưởng thành(đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đối khác là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh D có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Toà án không lấy được lời khai anh D về việc vợ chồng có tài sản chung, nợ chung hay không và quan điểm của anh D đối với phần tài sản chung, nợ chung( nếu có) nên Toà án không xem xét giải quyết tài sản chung, nợ chung trong vụ án ly hôn này. Khi các đương sự có yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung thì khởi kiện bằng vụ kiện khác kèm theo các tài liệu chứng cứ để chứng minh.

. Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường

vụ Quốc Hôi quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyªn xö:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Đỗ Thị H, cho chị H được ly hôn anh Đào Xuân D

2. Về con chung: Giao 03 con chung là Đào Đỗ Minh T sinh ngày 08/03/2012; Đào Đỗ Tâm A, sinh ngày 29/12/2015; Đào Khánh L, sinh ngày 22/11/2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh D có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

4. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ( Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0002439 ngày 06/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Ngyên, tỉnh TH.

5. Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết bản án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM N¬i nhËn:

- VKSND TP;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- Chi cục THADS TP;

- TAND tỉnhTN;

- Đương sự;

- UBND phường(xã);

- Lưu HS, BP.

Nguyễn Anh Thƣ CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thƣ CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thƣ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH TH

Độc lập – Tự do – H phúc

––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––

TH, ngày 07 tháng 5 năm 2019

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán, chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thị Thu Hà

* Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xuân Viện

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Vào hồi 09 giờ, ngày 07/5/2019 tại Phòng nghị án, HĐXX sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án HNGĐ thụ lý số 27/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2019 về việc “ly hôn”, giữa:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hà, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: Tổ 14, phường Tân Thành, thành phố TH, tỉnh TH.

Bị đơn: Anh Dương Anh D, sinh năm 1975.

Nơi cư trú: Tổ 14, phường Tân Thành, thành phố TH, tỉnh TH.

1. Điều luật áp dụng:

Căn cứ: các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng: Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án..

Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3

2. Tuyên xử:

2.1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Hà, cho chị Hà được ly hôn với anh Dương Anh D.

Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3

2.2. Về con chung: Giao cả hai con chung là Dương Đức Anh, sinh ngày 28/9/2009 và Dương Khánh Ly, sinh ngày 04/5/2014, cho chị Hà trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh D được quyền đi lại thăm nom con chung.

* Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Tòa án không giải quyết vì chị Hà không yêu cầu.

Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3

2.4. Án phí: Chị Hà phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007208 ngày 07/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH.

Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3

Chị Hà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3

Biên bản nghị án kết thúc cùng ngày.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ