vanban.org

Bản án 31/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/05/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) được ly hôn anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A).

Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2018/0000643 ngày 20/4/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (Do … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị PHương D xin ly hôn Ngô Việt A"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) được ly hôn anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A).
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HNGĐ-ST
Ngày 29/5/2020
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Minh Khánh.

Bà Nguyễn Thị Bích.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 29/5/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang (Việt Nam) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 53/2020/TLST-HNGĐ ngày 20/4/2020 về việc tranh chấp “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/5/2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D)- sinh ngày 18/8/1991. Hộ chiếu số: B5316595 do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 08/6/2011. Quốc tịch : Việt Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn D, xã Đ (nay thuộc thị trấn T), huyện H, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam.

Nơi cư trú hiện nay ở nước ngoài: Rubens StraBe 6 Ludwigshafen am Rbein 67061 Germany (Cộng hòa Liên bang Đức).

Xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Bị đơn: Anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A), sinh ngày 13/7/1993.

Hộ chiếu số: C3J51KLRP cấp ngày 26/6/2018 tại Berlin; Quốc tịch: Đức.

Nơi cư trú hiện nay ở nước ngoài: Einbechker Str101_ 10315 Berlin Germany (Cộng hòa Liên bang Đức).

Xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D)v à anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) về việc giao, nhận tài liệu, văn bản tố tụng: bà Ngô Thị T, sinh năm: 1964. Địa chỉ: thôn D, xã Đ (nay thuộc thị trấn T), huyện H, tỉnh Bắc Giang. Không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Phương D(viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) trên cơ sở có sự tìm hiểu và tự nguyện. Chúng tôi đăng ký kết hôn ngày 12-02-2015 tại cơ quan có thẩm quyền của Vương quốc Đan Mạch là Tønder Kommune có địa chỉ tại Kongevej 57 6270Tønder Kommune, Danmark. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống tại Cộng hòa liên bang Đức. Vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau. Vợ chồng đã cố gắng thay đổi, khắc phục nhưng không được. Gia đình hai bên cũng tích cực tham gia hòa giải, động viên nhưng vợ chồng không thể hòa giải với nhau, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A).

- Về con chung: Chị và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) không có con chung do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết

- Về tài sản chung, các khoản nợ chung: Chị và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Ngo Viet A) không có tài sản chung, không có nợ chung do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Ngoài ra tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Phương D(viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) trình bày: Do công việc bận không thu xếp về Việt Nam được nên chị đề nghị xin được vắng mặt tại các buổi làm việc lấy lời khai, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử của Tòa án. Chị đã làm văn bản ủy quyền cho bà Ngô Thị T giao nhận tài liệu, các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo lại cho chị được biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

* Tại bản tự khai, bị đơn là anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) ngày 12-02-2015 tại Đan Mạch. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống tại Cộng hòa liên bang Đức. Vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau. Vợ chồng đã cố gắng thay đổi, khắc phục nhưng không được. Gia đình hai bên cũng tích cực tham gia hòa giải, động viên nhưng vợ chồng không thể hòa giải với nhau, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên quyết định làm đơn ly hôn. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, các khoản nợ: Vợ chồng không có tài sản chung và các khoản nợ chung do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Ngoài ra tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Ngô Việt A(viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) trình bày: Do không sắp xếp được công việc riêng và hiện đang ở nước ngoài không về Việt Nam được nên đề nghị xin được vắng mặt tại các buổi làm việc lấy lời khai, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử của Tòa án.

Anh đã làm văn bản ủy quyền cho bà Ngô Thị T giao nhận tài liệu, các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo lại cho anh được biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

*Tại phiên tòa sơ thẩm chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Ngo Viet A) vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) công bố đơn khởi kiện; bản tự khai của chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A(viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A), tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang không tham gia phiên tòa do vụ án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, Điều 21- Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) là công dân có quốc tịch Việt Nam, địa chỉ đăng ký thường trú tại thôn D, xã Đ (nay thuộc thị trấn T), huyện H, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam nhưng đang cư trú tạiRubens StraBe 6 Ludwigshafen am Rbein 67061 Germany (Cộng hòa Liên bang Đức). Hiện chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Ngo Viet A) là công dân có quốc tịch: Đức, đang cư trú tại Einbechker Str101_ 10315 Berlin Germany (Cộng hòa Liên bang Đức).

Như vậy, Tòa án xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn có đương sự là người Việt Nam ở nước ngoài, đang cư trú ở nước ngoài với người Việt Nam có quốc tịch nước ngoài, đang cư trú ở nước ngoài. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang (Việt Nam) theo quy định tại khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 127- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

. Về việc đương sự vắng mặt tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành văn bản tố tụng và giao cho người đại diện của các đương sự nhận thay để thông báo cho các đương sự biết, thực hiện quyền và nghĩa vụ. Chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Ngo Viet A) đã có lời khai trình bày về việc ly hôn và có đơn xin xét xử vắng mặt. Các văn bản của chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) đều có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Đức. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 227; khoản 1, Điều 228; Điều 238; điểm a, khoản 5, Điều 477- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A).

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy:

.Về quan hệ vợ chồng:

Chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) kết hôn trên cơ sở có sự tìm hiểu và tự nguyện và đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Vương quốc Đan Mạch là Tønder Kommune (địa chỉ tại: Kongevej 57 6270Tønder Kommune, Danmark).Sau khi kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) và anhNgô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) đã thực hiện việc ghi chú kết hôn tại UBND huyện H, tỉnh Bắc Giang (Việt Nam) theo quy định tại các Điều 34, Điều 35- Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch. Theo ngôn ngữ nước ngoài không có dấu như ngôn ngữ tiếng Việt nên tên của các đương sự được viết là “Nguyen Thi Phuong D” và “Ngo Viet A”. Do vậy Tòa án xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) và anhNgô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) là hợp pháp và được điều chỉnh theo pháp luật Việt Nam. Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) và anhNgô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Nay chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Nguyen Thi Phuong D) xin ly hôn anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là:Ngo Viet A). Anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn.

. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) được ly hôn anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A).

. Về con chung: chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) đều xác định không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A)trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về các khoản nợ chung: chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5, Điều 27-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) đã thi hành xong án phí dân sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56; khoản 2, Điều 123; Điều 127- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; khoản 1, Điều 227; khoản 1, Điều 228; Điều 238; khoản 1, Điều 474; điểm a, khoản 5, Điều 477; khoản 2, Điều 479 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) được ly hôn anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A).

2. Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2018/0000643 ngày 20/4/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (Do bà Ngô Thị T là đại diện theo ủy quyền nộp). Xác nhận chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) đã thi hành xong án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Phương D (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Nguyen Thi Phuong D) và anh Ngô Việt A (viết theo ngôn ngữ nước ngoài là: Ngo Viet A) hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9-Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ