vanban.org

Bản án 31/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 122/2019/TLST - HNGĐ,

Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau: Địa điểm mở phiên toà: Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Chị X và anh M"
  • Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 122/2019/TLST - HNGĐ,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HNGĐ-ST
Ngày 28-7-2020
“V/v Ly hôn giữa Chị X
và anh M”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Phượng.

2. Bà Nguyễn Thị Khánh Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - thư ký Tòa án nhân dân huyện H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28-7-2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2020/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2020/QĐXXST – HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1971.

Bị đơn: Anh Đỗ Văn M, sinh năm 1970. Đều trú tại: Thôn H, xã H1, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Chị X, anh M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 05-6-2020, nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày: Chị kết hôn với anh M là do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H1 vào tháng 12-1990, nhưng do lâu ngày chị đã làm mất giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng hay cãi cọ nhau, hơn nữa anh M thường xuyên uống rượu đánh chửi vợ con, chị đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng chị đã đưa con về bố mẹ đẻ ở từ tháng 4-2000 đến nay, vợ chồng sống ly thân từ đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án nhân dân (viết tắt TAND) huyện H giải quyết cho chị được ly hôn anh M. Về con chung: Chị và anh M có 02 con chung là Đỗ Thị Ng, sinh năm 1991 và Đỗ Công T, sinh năm 1999. Hiện nay các con đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 24-6-2020 bị đơn Đỗ Văn M trình bày: Về điều kiện kết hôn giữa anh và Chị X như Chị X trình bầy là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vào năm 2000, nguyên nhân là do Vợ chồng tính tình không hợp, Chị X đưa con về bố mẹ đẻ ở từ năm 2000, Vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2000 đến nay. Nay Chị X có đơn xin ly hôn anh, anh không muốn vợ chồng ly hôn, nếu Chị X cố tình thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh và Chị X có 02 con chung là Đỗ Thị Ng, sinh năm 1991 và Đỗ Công T, sinh năm 1999. Hiện nay các con đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Không có, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành cơ bản đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự;

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho Chị X và anh M được ly hôn; về con chung: Các con của Chị X và anh M đã trưởng thành, không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị X và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện H nhận định:

Chị X khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh M ở địa chỉ: Thôn Hà Lý, xã H1, huyện H, tỉnh Thái Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện H, tỉnh Thái Bình.

Chị X, anh M đều có đơn xin xử vắng mặt, vì vậy Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt Chị X, anh M theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị X và anh M đều trình bầy kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H1, huyện H vào tháng 12-1990, nhưng do lâu ngày Chị X làm mất giấy chứng nhận kết hôn. Qua xác minh UBND xã H1 xác nhận Chị X, anh M có đăng ký kết hôn tại UBND xã H1 năm 1990, hiện tại UBND xã H1 không còn lưu được sổ đăng ký kết hôn năm 1990. Vì vậy, Tòa án xác định hôn nhân giữa Chị X và anh M là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2000 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng hay cãi cọ nhau. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng sống ly thân từ tháng 4-2000 đến nay. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị X và anh M đã căng thẳng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần xử cho ly hôn giữa Chị X và anh M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị X và anh M có 02 con chung là Đỗ Thị Ng, sinh năm 1991 và Đỗ Công T, sinh năm 1999. Hiện nay các con đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, không yêu cầu Tòa án giải quyết trách nhiệm nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị X, anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị X phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị X và anh Đỗ Văn M.

2. Về nuôi con chung: Chị X và anh M có 02 con chung là Đỗ Thị Ng, sinh năm 1991 và Đỗ Công T, sinh năm 1999. Hiện nay các con đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, không yêu cầu Tòa án giải quyết trách nhiệm nuôi dưỡng.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng Chị X đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006018 ngày 05-6-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Chị X đã nộp đủ tiền án phí.

5. Chị X và anh M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ