vanban.org

Bản án 31/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị T. Cho chị T được ly hôn với anh Phạm Thành D.

Về con chung: Giao Phạm Phương Th, sinh ngày 18/8/2008 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng; anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị T. Cho chị T được ly hôn với anh Phạm Thành D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/HNGĐ-ST
Ngày 17 – 02 – 2020
V/v tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung

NHÂN D

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Châu Trung Trực

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 573/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1985; cư trú tại: Ấp B, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Thành D, sinh năm 1985; cư trú tại: Ấp B, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị T thể hiện:

Chị T và anh Phạm Thành D kết hôn năm 2007 và đăng ký kết hôn tại UBND xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Khi về chung sống do bất đồng quan điểm nên xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, gia đình hai bên đã hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Từ nguyên nhân trên, chị T xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh D.

Quá trình chung sống có 01 người con chung tên Phạm Phương Th, sinh ngày 18/8/2008 do chị T đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi Phương Thùy, yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị T rút lại việc yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về các vấn đề khác: Chị T xác định không có.

* Đối với anh Phạm Thành D: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của chị T nhưng anh D không có ý kiến gì và không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Huỳnh Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Phạm Thành D đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự này là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Chị T và anh D kết hôn năm 2007 và đăng ký kết hôn tại UBND xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Theo chị T, khi về chung sống xảy ra mâu thuẫn mặc dù đã được gia đình hòa giải, hàn gắn nhưng không thành; trong khi đó, anh D không có ý kiến về các nội dung và yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Xét yêu cầu của chị T, thấy rằng: Chị T yêu cầu ly hôn nhưng qua các lần triệu tập hòa giải, xét xử anh D đều vắng mặt không có lý do; thể hiện việc anh D không có thiện chí hòa giải, hàn gắn; điều đó cho thấy hôn nhân của anh, chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị T ly hôn với anh D là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về con chung: Có 01 người con do chị T đang nuôi dưỡng, khi cha, mẹ ly hôn thì cháu Phương Th có nguyện vọng sinh sống cùng với chị T.

Xét yêu cầu xin nuôi con sau khi ly hôn của chị T phù hợp với nguyện vọng của Phương Th; trong khi đó anh D không có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó, để ổn định trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trên cơ sở xem xét nguyện vọng của Phương Th nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị T tiếp tục nuôi Phương Thùy là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị T tự nguyện rút lại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét và Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ đối với yêu cầu này của chị T là phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Trường hợp có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản: Chị T xác định tự thỏa thuận, về các vấn đề khác: Chị T xác định không có; anh D không có ý kiến gì về các vấn đề này nên không đặt ra xem xét. Trường hợp có phát sinh tranh chấp về các vấn đề này sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị T phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị T. Cho chị T được ly hôn với anh Phạm Thành D.

2. Về con chung:

- Giao Phạm Phương Th, sinh ngày 18/8/2008 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng; anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Đình chỉ yêu cầu của chị T về yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi Phương Thùy. Chị T có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu này theo quy định của pháp luật.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009800 ngày 17 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (chị T đã nộp xong).

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ