vanban.org

Bản án 31/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L đối với ông Lâm Thanh T về việc yêu cầu thanh toán tiền vay.

Buộc ông Lâm Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị L số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp ông T chậm thanh toán khoản tiền nói trên cho bà L thì phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Võ Thị L yêu cầu ông Lâm Thanh T thanh toán tiền vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L đối với ông Lâm Thanh T về việc yêu cầu thanh toán tiền vay.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2020/DS-ST
Ngày 17-8-2020
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Phi Hùng

2. Ông Đặng Hoàng Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Ngày 17 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2020/TLST – DS ngày 19 tháng 02 năm 2020 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2020/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 150/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị L, sinh năm 1957 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: 115/14 NTN, khóm A, phường B, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Lâm Thanh T (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trình bày của bà Võ Thị L tại đơn khởi kiện ngày 11/01/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án:

Ông Lâm Thanh T có vay của bà Võ Thị L số tiền 20.000.000 đồng, không thỏa thuận thời hạn thanh toán. Đến ngày 30/7/2019 ông T có viết biên nhận với nội dung ông T có nợ của bà L số tiền 20.000.000 đồng, ông T hẹn sẽ thanh toán cho bà L 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết nợ. Nếu ông T thực hiện không đúng với biên nhận thì sẽ thanh toán lãi cho bà L theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, bà L chỉ yêu cầu ông T thanh toán cho bà số tiền vốn 20.000.000 đồng, không yêu cầu thanh toán lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tranh chấp giữa các đương sự nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

Ông Lâm Thanh T đã được Tòa án triệu tập xét lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lí do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Bà Võ Thị L khởi kiện ông Lâm Thanh T yêu cầu thanh toán tiền vay. Vì vậy, quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, bà L yêu cầu ông T thanh toán khoản tiền vay vốn 20.000.000 đồng, không yêu cầu thanh toán lãi. Do ông T không thanh toán nợ cho bà L nên phát sinh tranh chấp.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Theo biên nhân nợ ngày 30/7/2019 của ông Lâm Thanh T, có xác nhận của Công an xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, nội dung thể hiện thực tế ông T có vay của bà L số tiền 20.000.000 đồng, ông T hẹn sẽ thanh toán cho là L số tiền 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi thanh toán hết nợ, nếu thực hiện sai cam kết sẽ chịu lãi suất theo quy đinh của pháp luật. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T vắng mặt không có lí do, ông T không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, ông T không cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác tại hồ sơ vụ án. Xét thấy yêu cầu của bà L là có cơ sở nên cần chấp nhận.

Buộc ông Lâm Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị L số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) theo biên nhận đề ngày 30/7/2019 do ông Lâm Thanh T ký tên, có xác nhận của Công an xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Bà L không đặt ra yêu cầu ông T thanh toán lãi cho bà nên không xem xét là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lâm Thanh T.

Áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L đối với ông Lâm Thanh T về việc yêu cầu thanh toán tiền vay.

2. Buộc ông Lâm Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị L số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp ông T chậm thanh toán khoản tiền nói trên cho bà L thì phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lâm Thanh T phải nộp phải nộp 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặn niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Cỡ chữ