vanban.org

Bản án 31/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T đối với bị đơn ông Nguyễn Phƣớc L. Buộc ông Nguyễn Phƣớc L phải trả Công ty T số tiền 24.319.000 đồng, trong đó nợ gốc là 17.128.4599 đồng, lãi 7.190.541 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "công ty t- Nguyễn phước l"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 31/2020/DS-ST
Ngày: 23-6-2020
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tố Uyên

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Ngọc Phƣơng

2. Bà Lê Thị Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Tín – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Duy Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 21/2020/TLST-DS ngày 13/01/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2020/QĐ-DS ngày 23 tháng 5 năm 2020, giữa:

1. Nguyên đơn: Công ty T; trụ sở: Phƣờng a, Quận a1, Thành phố A2.

Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Lô B – Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

Ngƣời đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Phạm Hữu Đ, sinh năm 1993; địa chỉ: Phƣờng Đ1, quận Đ2, Thành phố A2 (theo văn bản ủy quyền ngày 04/5/2020), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phƣớc L, sinh năm 1981; địa chỉ: khu phốb1, phƣờng B2, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 11/10/2019, bản tự khai và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 09/6/2016, Công ty T (sau đây gọi tắt là Công ty T) có phê duyệt cho ông Nguyễn Phƣớc L vay số tiền 21.100.000 đồng với mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 24 tháng tính từ ngày 09/6/2016, lãi suất 3.33%/tháng theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số x ngày 03/6/2016. Trong ngày 09/6/2016, Công ty T đã giải ngân số tiền trên vào tài khoản của ông Nguyễn Phƣớc L.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Phƣớc L đã trả cho nguyên đơn tổng số tiền 7.964.000 đồng. Lần đầu tiên bị đơn Lợi vi phạm nghĩa vụ thanh toán là từ tháng 8/2016, tuy nhiên phía nguyên đơn vẫn luôn tạo điều kiện cho bị đơn thực hiện nghĩa vụ nên vẫn kéo dài thời gian cho bị đơn thanh toán dần. Tuy nhiên, ngày 18/4/2019 cho đến nay, ông Nguyễn Phƣớc L không thanh toán thêm cho nguyên đơn bất cứ khoản tiền nào mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ, đôn đốc nhƣng phía ông L cứ hứa hẹn và né tránh. Do đó, Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Phƣớc L phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ gốc, nợ lãi đến ngày xét xử số tiền 24.319.000 đồng.

Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu gì khác.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp gồm: Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số x ngày 03/6/2016 (bản sao); bảng kê tính lãi; chứng từ giải ngân.

Bị đơn ông Nguyễn Phƣớc L đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng nhƣng bị đơn vẫn không đến làm việc, không ủy quyền cho ai đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quá trình đƣa vụ án ra xét xử, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Phƣớc L thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến thời điểm xét xử là 24.319.000 đồng.

Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký tòa án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng; bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

Về nội dung: Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ vụ án, thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, kết qủa tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Phƣớc L thanh toán cho ngân hàng số tiền còn nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng ký kết giữa Công ty T và ông Nguyễn Phƣớc L. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án đƣợc xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Khoản 3, Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Phƣớc L cƣ trú tại phƣờng Bình Nhâm, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng nên Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định tại các Điều 177, 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhƣng không tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng nhƣ tại phiên tòa ngày hôm nay. Do vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và xem nhƣ bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1.4] Do Công ty T và ông Nguyễn Phƣớc L ký kết hợp đồng tín dụng vào năm 2016 nên cần áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015.

Về nội dung:

Ngày 09/6/2016, Công ty T có phê duyệt cho ông Nguyễn Phƣớc L vay số tiền 21.100.000 đồng theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số x ngày 03/6/2016. Ngày 09/6/2016, Công ty T đã giải ngân số tiền trên vào tài khoản của ông Nguyễn Phƣớc L. Do đó, quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên phát sinh từ hợp đồng tín dụng nêu trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Phƣớc L đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận, làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của nguyên đơn, cụ thể nhƣ sau:

Tính đến ngày nguyên đơn khởi kiện vụ án đến Tòa án, ông L chỉ mới thanh toán tổng cộng là 6.664.000 đồng;

Ông L còn nợ nguyên đơn tính đến ngày khởi kiện tổng số tiền 24.319.000 đồng, trong đó nợ gốc là 17.128.4599 đồng, lãi 7.190.541 đồng.

Từ ngày nguyên đơn khởi kiện đến thời điểm Tòa án đƣa vụ án ra xét xử, bị đơn không thanh toán thêm cho nguyên đơn bất cứ khoản nợ nào.

Đối với phần tính lãi, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 3.33%/tháng. Xét thấy, mức thỏa thuận lãi suất của các bên phù hợp với Khoản 2, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tƣ 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nƣớc.

Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án tính lãi từ thời điểm khởi kiện đến ngày vụ án đƣợc đƣa ra xét xử là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông L trả tổng số tiền 24.319.000 đồng là có căn cứ theo qui định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Từ nhận định trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn đƣợc Tòa án chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn không phải chịu án phí; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả nợ theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3, Điều 26; Điểm a, Khoản 1, Điều 35; Điều 36; Điểm a, Khoản 1, Điều 39; Khoản 1, Điều 147; Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 3, Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 471; Khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Khoản 2, Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010; Thông tƣ 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 về hƣớng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T đối với bị đơn ông Nguyễn Phƣớc L.

Buộc ông Nguyễn Phƣớc L phải trả Công ty T số tiền 24.319.000 đồng, trong đó nợ gốc là 17.128.4599 đồng, lãi 7.190.541 đồng.

2. Buộc ông Nguyễn Phƣớc L tiếp tục thanh toán cho Công ty T tiền lãi suất phát sinh từ ngày 23/6/2020 đến khi thanh toán xong số tiền còn nợ.

Lãi suất từ ngày 23/6/2020 trở đi đƣợc tính trên dƣ nợ gốc thực tế theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số x ngày 03/6/2016.

3. Án phí: Ông Nguyễn Phƣớc L phải chịu 1.215.950 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty T không phải chịu án phí. Trả lại cho Công ty T số tiền 607.975 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0046046 ngày 06/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ