vanban.org

Bản án 31/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2019. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH NHAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 31 /2019/HSST
Ngày 28/8/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Lâm

2. Bà Hoàng Thị Thành

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2019. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2019/HS-ST ngày 08/8/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/HSST-QĐ ngày 08/8/2019 đối với bị cáo sau:

Nguyễn Văn C, Sinh ngày 09 tháng 10 năm 1983. Nguyên quán: Xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình. Nơi ĐKHTT: Bản K, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La; Chỗ ở hiện nay: Bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 7/12.

Con ông: Nguyễn Văn Nh (đã chết) và bà Lê Thị R, sinh năm 1940. Trú Quán: Bản K, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La.

Bị cáo có vợ là Quàng Thị C và 02 con, lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2015, hiện đều trú tại bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án.

Tại Bản án số 31/2009/HSST ngày 23/3/2009 của Tòa án huyện T, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt và án phí, thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự.

Bị cáo bị tạm giam, tạm giữ kể từ ngày 25/4/2019 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 25/4/2019 Nguyễn Văn C điều khiển xe máy BKS 26F2- 6713 đi từ bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn la đi lên huyện T, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân, khi đến ngã ba xã M thuộc huyện T, tỉnh Điện Biên. C hỏi mua được của một người không biết họ tên và địa chỉ 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng, sau khi mua xong đang trên đường về đến bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroin; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA - Dream, biển kiểm soát 26F2 - 6713 xe đã qua sử dụng.

Số ma túy thu giữ của bị cáo được cân tịnh dưới sự có mặt của bị cáo có tổng khối lượng là 0,18 gam, kết luận giám định là heroin, do có hành vi nêu trên:

Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKSQN ngày 07/8/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 15 đến 18 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ Luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên ngoài ghi; Vật chứng lưu kho gồm: 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, ngày 25/4/2019 bị cáo đã mang theo số tiền là 150.000 đồng đi tìm mua ma túy của một người không biết họ tên và địa chỉ tại ngã ba xã M thuộc huyện T, tỉnh Điên Biên với mục đích mang về sử dụng cho bản thân, sau khi mua xong trên đường về đến bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La thì bị phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng gồm: 0,18 gam chất bột màu trắng, bị cáo khai nhận là heroin.

Tại bản kết luận giám định ma túy số 819/KLMT ngày 28/4/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận, mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại chất heroin, có tổng khối lượng là 0,18 gam, với hành vi trên có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Xét tính chất vụ án:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm sử dụng, mua bán, lưu hành trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền quản lý về các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Ngày 23/3/2009 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, án phí và tiền truy thu 50.000 đồng, xét bị cáo thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 bộ luật hình sự, nhưng xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra, xác minh bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản gì có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.

Xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt tù, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng, nhân thân bị cáo là có căn cứ đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

Vật chứng vụ án: Toàn bộ 0,18 gam heroine bị thu giữ trong vụ án, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định không hoàn lại, số vật chứng còn lại gồm 01 phong bì còn nguyên niêm phong bên ngoài ghi: Vật chứng lưu kho vụ Nguyễn Văn C gồm: 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở, xét là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA - Dream, biển kiểm soát 26F2 - 6713 xe đã qua sử dụng là xe máy thuộc quyền sở hữu của bà Quàng Thị C có trước khi kết hôn với bị cáo Nguyễn Văn C, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã trả cho bà Quàng Thị C là có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình Sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2019.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) phong bì còn nguyên niêm phong bên ngoài ghi; vật chứng lưu kho gồm 01mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự.

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).

- Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ