vanban.org

Bản án 31/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn P phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Quàng Văn P 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 4 năm 2019. Vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 0,2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn P phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 31/2019/HSST
Ngày: 15/8/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Tòng Văn Tọt.

2. Ông: Hoàng Văn Tiến.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2019/HSST, ngày 26 tháng 7 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST – HS ngày 02 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn P; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989; ĐKHKTT: Bản K, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; Cư trú tại: Bản K, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Thái; con ông: Quàng Văn K, sinh năm 1958 và bà Quàng Thị M, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là: Lường Thị H, sinh năm 1988 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự ngày 10/10/2016 bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Đến ngày 27/3/2018 chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính bắt buộc; Bị cáo bị tạm giam, giữ từ ngày 18/4/2019 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Quàng Văn P được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 20 ngày 18 tháng 4 năm 2019, tại đoạn đường liên xã thuộc bản X, xã X, huyện M, Quàng Văn P đã có hành vi cất giấu trái phép 0,30 gam Heroine, mục đích để sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 11 giờ ngày 18/4/2019 P đi bộ một mình từ nhà ở của mình thuộc Bản K, xã X, huyện M lên bản C, xã X để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến bản C, xã X P gặp và hỏi mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu 01 gói Heroine với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được Heroine P đi về nhà, còn người Mông đó đi đâu thì P không biết, trên đường về, P vào bụi cây ven đường dùng tay cấu ra thành 04 gói nhỏ, trong đó 01 gói nhỏ Heroine gói bằng mảnh túi nilon màu hồng và 03 gói nhỏ Heroine gói bằng các mảnh giấy có chữ viết rồi P gói tất cả vào mảnh túi nilon màu hồng. Còn lại 01 ít vụn Heroine P sử dụng bằng hình thức đốt hít, sau khi sử dụng xong P cầm gói Heroine trong lòng bàn tay trái tiếp tục đi về nhà. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày P về đến bản X, xã X thì gặp Tổ công tác Công an Đồn Búng Lao, huyện Mường Ảng đang làm nhiệm vụ, tổ công tác kiểm tra, P đã tự giác lấy Heroine gói trong mảnh nilong màu hồng có khối lượng là 0,30 gam giao nộp cho tổ công tác.

Tại biên bản niêm P vật chứng hồi 14 giờ 10 phút ngày 18/4/2019 thì vật chứng thu giữ của Quàng Văn P 04 gói nhỏ, trong đó 01 gói nhỏ Heroine gói bằng mảnh túi nilon màu hồng và 03 gói nhỏ Heroine gói bằng các mảnh giấy có chữ viết tất cả vào mảnh túi nilon màu hồng nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm P xác định khối lượng hồi 17 giờ 05 ngày 18/4/2019, 01 gói nhỏ Heroine gói bằng mảnh túi nilon màu hồng và 03 gói nhỏ Heroine gói bằng các mảnh giấy có chữ viết có khối lượng là: 0,30 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 439/GĐ – PC 09, ngày 27/4/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: 0,30 gam là ma túy: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 29/CT - VKSMA, ngày 24/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Quàng Văn P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Quàng Văn P từ 14 tháng đến 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,23g Heroine, là vật chứng còn lại của vụ án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Quàng Văn P.

Lời nói sau cùng, Quàng Văn P nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn P công nhận: Hồi 13 giờ 20 ngày 18 tháng 4 năm 2019, tại đoạn đường liên xã thuộc bản X, xã X, huyện M, Quàng Văn P đã có hành vi cất giấu trái phép 0,30 gam Heroine, mục đích để sử dụng.

Trong quá trình điều tra bị cáo khai mua 01 gói nhỏ Heroine được gói bằng mảnh nilong màu hồng với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản xác định khối lượng ngày 18/4/2019 và kết luận giám định số: 439/GĐ – PC 09, ngày 27/4/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: 0,30 gam là ma túy: Loại Heroine, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 18/4/2019 đối với Quàng Văn P.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Quàng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Điện Biên, được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 3/12 thì ở nhà lao động sản xuất. Năm 2005 sống cùng với chị Lường Thị H, sinh năm 1988 và có với nhau 02 người con. Ngày 10/10/2016 bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Đến ngày 27/3/2018 chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính bắt buộc trở về địa phương sinh sống, chưa hết thời hạn xóa tiền sự đã phạm tội. Bị cáo là một người chồng, người cha trụ cột trong gia đình nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức án thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu vào ngày 18/4/2019. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.

. Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,23 gam là số Heroine còn lại sau khi gửi mẫu giám định, cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo Quàng Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí miễn án phí HSST cho bị cáo.

. Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát xét thấy phù hợp nên hội đồng xét xử cần xem xét.

. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn P phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Quàng Văn P 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 4 năm 2019.

2. Vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 0,23 gam là số Heroine còn lại sau khi gửi mẫu giám định. (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2019).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn P.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ